TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 330/2024/HS-ST Ngày 12/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình và ông Y BLao BKrông
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 12/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 323/2024/HSST, ngày 18/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2024/QĐXXST-HS, ngày 31/10/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/7/2003; Tại: Tỉnh Thanh Hóa.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12.
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông: Mai Văn C; Con bà: Trần Thị Q; Bị cáo có vợ là Ngô Thị T; có 01 con, sinh năm 2021.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, kể từ ngày 28/5/2024 cho đến nay- Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1985
- Địa chỉ: Số G M, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Lê Thị Thanh N, sinh năm 1990
- Địa chỉ: Số A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Đỗ Thị Cẩm N1, sinh năm 1980
- Địa chỉ: Hẻm B P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1984
- Địa chỉ: Số I P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Trọng S, sinh năm 1976
- Địa chỉ: Số F T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Trần Thị N2, sinh năm 1972
- Địa chỉ: Số A P, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975
- Địa chỉ: Số B L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Thu K, sinh năm 1981
- Địa chỉ: Số A B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Bích N3, sinh năm 1982
- Địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Ông Thái Văn H1, sinh năm 1994
- Địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1982
- Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- + Chị Ngô Thị T, sinh năm 2003
- Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa – Đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Ông Đinh Công H2, sinh năm 1987
- Địa chỉ: Số A G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- + Bà Lương Thị Thúy H3, sinh năm 1996
- Địa chỉ: Số H N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 3/2024, Mai Văn V cùng với Lê Công A và Nguyễn Văn Đ rủ nhau từ tỉnh Thanh Hóa đến thành phố B để cho người dân vay tiền với lãi suất cao. Lúc này, V, Công A và Đ thuê phòng tại Khách sạn N4, tại địa chỉ: B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để ở lâu dài. Tuy nhiên, V, Công A và Đ hoạt động cho vay tiền với lãi suất cao độc lập, khách (người vay) của người nào thì người đó đứng ra trực tiếp cho vay và thu tiền gốc, tiền lãi. Để thực hiện hoạt động cho vay tiền với lãi suất cao, V đăng ký tài khoản facebook tên “cho vay tiền nhanh chóng, ai có nhu cầu vay thì liên hệ đến số điện thoại 0384.659.xxx để được vay”. Khi khách liên hệ thì V sẽ yêu cầu kết bạn Zalo qua số điện thoại 0384.659.xxx tên “G1” để trao đổi, thống nhất khoản vay và cách thức trả tiền. Mai Văn V cho vay tiền bằng hình thức vay tiền góp, có thể góp 21 ngày đến 25 ngày tùy theo thỏa thuận với người vay, cụ thể: Vay 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày thì mỗi ngày góp 600.000 đồng, thu phí mỗi khoản vay theo thỏa thuận hai bên, thu phí mỗi lần vay theo thỏa thuận hai bên. Tương đương với mức lãi suất từ 365%/năm đến 534,1%/năm. Sau khi hai bên thống nhất số tiền vay và lãi suất thì V sẽ đến nhà của người vay để kiểm tra. Lúc này, V giới thiệu mình tên là “G” và ghi thông tin người vay vào điện thoại, giữ lại giấy tờ cá nhân của người vay (Căn cước công dân, Giấy phép lái xe...). Khi có khách vay tiền, V sử dụng số tài khoản 19036688715013, mở tại Ngân hàng TMCP K1, mang tên Ngô Thị T (tài khoản của vợ V) để chuyển tiền cho người vay hoặc đưa tiền trực tiếp (thu trước 02 ngày tiền góp và tiền phí). Hàng ngày, khách sẽ chuyển tiền góp vào số tài khoản trên hoặc đưa tiền trực tiếp cho V. Với cách thức hoạt động như trên, trong thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 5/2024, Mai Văn V đã cho 10 người vay, cụ thể như sau:
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D, vay 04 lần như sau:
- Lần 01: Ngày 04/4/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 300.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 6.300.000 đồng, trong đó 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.300.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 57.534 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000 đồng + 300.000 đồng - 57.534 đồng = 1.542.466 đồng.
- Lần 02: Ngày 16/4/2024, vay số tiền 8.000.000 đồng, mỗi ngày trả 500.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 10.500.000 đồng, trong đó 8.000.000 đồng tiền gốc và 2.500.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 92.055 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000 đồng + 500.000 đồng - 92.055 đồng = 2.907.945 đồng.
- Lần 03: Ngày 10/5/2024, vay số tiền 8.000.000 đồng, mỗi ngày trả 500.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 10.500.000 đồng, trong đó 8.000.000 đồng tiền gốc và 2.500.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 92.055 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000 đồng + 500.000 đồng - 92.055 đồng = 2.907.945 đồng.
- Lần 04: Ngày 23/5/2024, vay số tiền 8.000.000 đồng, mỗi ngày trả 500.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu được 02 ngày với số tiền 1.000.000 đồng, trong đó 761.905 đồng tiền gốc và 238.095 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 8.767 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 238.095 đồng + 500.000 đồng - 8.767 đồng = 729.328 đồng.
Như vậy, bị cáo V cho chị D vay tổng số tiền là 29.000.000 đồng đã thu lợi bất chính số tiền: 8.087.684 đồng.
- Chị Lê Thị Thanh N, vay 02 lần như sau:
- Lần 01: Ngày 12/5/2024, vay số tiền 30.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.800.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 1.800.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 37.800.000 đồng, trong đó 30.000.000 đồng tiền gốc và 7.800.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 345.205 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 7.800.000 đồng + 1.800.000 đồng - 345.205 đồng = 9.254.795 đồng.
- Lần 02: Ngày 22/5/2024, vay số tiền 30.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.800.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 1.800.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu được 04 ngày với số tiền 7.200.000 đồng, trong đó 5.714.286 đồng tiền gốc và 1.485.714 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 65.753 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 1.485.714 đồng + 1.800.000 đồng – 65.753 đồng = 3.219.961 đồng.
Như vậy, V cho bà N vay tổng số tiền là 60.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền: 12.474.756 đồng
- Chị Đỗ Thị Cẩm N1, vay 01 lần như sau: Ngày 24/3/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 25 ngày, tiền phí vay là 1.500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu được 16 ngày với số tiền 16.000.000 đồng, trong đó 12.800.000 đồng tiền gốc và 3.200.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 175.342 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 3.200.000 đồng + 1.500.000 đồng - 175.342 đồng = 4.524.658 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T1, vay 01 lần như sau: Ngày 24/3/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 25 ngày, tiền phí vay là 1.500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu được 17 ngày với số tiền 17.000.000 đồng (cả tiền gốc và tiền lãi) và số tiền 200.000 đồng (cả tiền gốc và tiền lãi) của ngày 18; sau đó, chị T1 không có khả năng đóng tiền nữa nên V đã thu được tổng số tiền 17.200.000 đồng, trong đó 13.760.000 đồng tiền gốc và 3.440.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 188.493 đồng, nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 3.440.000 đồng + 1.500.000 đồng - 188.493 đồng = 4.251.507 đồng
- Anh Nguyễn Trọng S, vay 03 lần như sau:
- Lần 01: Ngày 25/3/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng, mỗi ngày trả 900.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 900.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 18.900.000 đồng, trong đó 15.000.000 đồng tiền gốc và 3.900.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 172.603 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 3.900.000 đồng + 900.000 đồng - 172.603 đồng = 4.627.397 đồng.
- Lần 02: Ngày 07/4/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng, mỗi ngày trả 900.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 900.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 18.900.000 đồng, trong đó 15.000.000 đồng tiền gốc và 3.900.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 172.603 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 3.900.000 đồng + 900.000 đồng - 172.603 đồng = 4.627.397 đồng.
- Lần 03: Ngày 12/4/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 300.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 6.300.000 đồng, trong đó 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.300.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 57.534 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000 đồng + 300.000 đồng - 57.534 đồng = 1.542.466 đồng.
Như vậy, với việc cho anh S vay tổng số tiền là 35.000.000 đồng thì V đã thu lợi bất chính số tiền: 10.797.260 đồng.
- Chị Trần Thị N2, vay 02 lần như sau:
- Lần 01: Vào khoảng giữa tháng 3/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 300.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 6.300.000 đồng, trong đó 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.300.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 57.534 đồng, nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000 đồng + 300.000 đồng - 57.534 đồng = 1.542.466 đồng.
- Lần 02: Vào khoảng đầu tháng 4/2024, vay số tiền 8.000.000 đồng, mỗi ngày trả 500.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 10.500.000 đồng, trong đó 8.000.000 đồng tiền gốc và 2.500.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 92.055 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000 đồng + 500.000 đồng - 92.055 đồng = 2.907.945 đồng.
Như vậy, với việc cho chị N2 vay tổng số tiền là 13.000.000 đồng thì V đã thu lợi bất chính số tiền: 4.450.411 đồng.
- Chị Nguyễn Thị H, vay 01 lần như sau: Vào ngày 26/3/2024, vay số tiền 8.000.000 đồng, mỗi ngày trả 500.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 300.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu 12 ngày với số tiền 7.500.000 đồng, trong đó 4.571.429 đồng tiền gốc và 1.428.571 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 52.603 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 1.428.571 đồng + 300.000 đồng - 52.603 đồng = 1.675.968 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Thu K, vay 03 lần:
- Lần 1: Vào ngày 25/3/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, mỗi ngày trả 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 800.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 800.000 đồng - 115.068 đồng = 3.248.932 đồng.
- Lần 2: Vào ngày 08/4/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, mỗi ngày trả 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 600.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng - 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
- Lần 3: Vào ngày 20/4/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn vay 21 ngày, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, thu phí là 600.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu 02 ngày tiền góp là 1.200.000 đồng; trong đó tiền gốc là 952.381 đồng và 247.619 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.093đ, nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 246.619 đồng + 600.000 đồng - 10.093 đồng = 836.660 đồng.
Như vậy, với việc cho chị K vay tổng số tiền là 30.000.000 đồng thì V đã thu lợi bất chính số tiền: 7.206.524 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Bích N3, vay tiền 01 lần: Ngày 11/5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, mỗi ngày trả 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 400.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu 19 ngày với số tiền 11.400.000 đồng, trong đó 9.047.619 đồng tiền gốc và 2.352.381 đồng tiền lãi.Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 104.110 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 2.352.381 đồng + 400.000 đồng - 104.110 đồng = 2.648.271 đồng.
- Anh Thái Văn H1, vay 03 lần:
- Lần 1: Ngày 22/3/2024, vay số tiền 30.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.800.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 37.800.000 đồng, trong đó 30.000.000 đồng tiền gốc và 7.800.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 345.205 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 7.800.000 đồng + 500.000 đồng - 345.205 đồng = 7.954.795 đồng.
- Lần 2: Vào ngày 09/4/2024, vay số tiền 30.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.800.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu đủ 21 ngày với số tiền 37.800.000 đồng, trong đó 30.000.000 đồng tiền gốc và 7.800.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 345.205 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 7.800.000 đồng + 500.000 đồng - 345.205 đồng = 7.954.795 đồng.
- Lần 3: Vào ngày 23/4/2024, vay số tiền 30.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.800.000 đồng tiền gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, tiền phí vay là 500.000 đồng. Khoản vay này, V đã thu 14 ngày với số tiền 25.200.000 đồng, trong đó 20.000.000 đồng tiền gốc và 5.200.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 230.137 đồng nên V đã thu lợi bất chính số tiền: 5.200.000 đồng + 500.000 đồng - 230.137 đồng = 5.469.836 đồng.
Như vậy, với việc cho anh H1 vay tổng số tiền là 90.000.000 đồng thì V đã thu lợi bất chính số tiền: 21.379.453 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- - 01 Căn cước công dân mang tên Đỗ Thị Cẩm N1 (bản gốc).
- - 01 Giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của Đỗ Thị Cẩm N1 (bản gốc).
- - 01 Căn cước công dân mang tên Lê Thị Thanh N (bản gốc).
- - 01 Giấy vay tiền ngày 12/5/2024 của Lê Thị Thanh N (bản gốc).
- - 01 Giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của Nguyễn Thị Thanh T1 (bản gốc).
- - 01 Giấy phép lái xe của Nguyễn Thị Ngọc D (bản gốc).
- - 01 Giấy vay tiền ngày 04/4/2024 của Nguyễn Thị Ngọc D (bản gốc).
- - 01 Giấy khai sinh của Nguyễn Như Hoàng V1 (bản gốc).
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI: 868066044931899, gắn sim mạng Viettel số thuê bao 0348.659.xxx, có số seri sim 8984048000916094518.
Tại bản Cáo trạng số: 329/CT-VKS ngày 18/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Mai Văn V, về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Mai Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nói trên.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Mai Văn V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i; s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai Văn V mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo số tiền từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng để sung Ngân sách nhà nước.
-Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Đỗ Thị Cẩm N1, 01 Căn cước công dân mang tên Lê Thị Thanh N, 01 Giấy phép lái xe của Nguyễn Thị Ngọc D và 01 Giấy khai sinh của Nguyễn Như Hoàng V1, là giấy tờ thuộc sở hữu, quản lý hợp pháp của chị Đỗ Thị Cẩm N1, chị Lê Thị Thanh N và chị Nguyễn Thị Ngọc D, đã thế chấp trong quá trình vay tiền của bị cáo Mai Văn V. Ngày 06/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại các giấy tờ trên cho chị Đỗ Thị Cẩm N1, chị Lê Thị Thanh N và chị Nguyễn Thị Ngọc D quản lý, sử dụng.
Đối với 01 Giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của Đỗ Thị Cẩm N1, 01 Giấy vay tiền ngày 12/5/2024 của Lê Thị Thanh N, 01 Giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của Nguyễn Thị Thanh T1 và 01 Giấy vay tiền ngày 04/4/2024 của Nguyễn Thị Ngọc D, là các tài liệu có liên quan đến hoạt động vay tiền của bị cáo Mai Văn V, là các vật chứng của vụ án nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI: 868066044931899, gắn sim mạng Viettel số thuê bao 0348.659.xxx, có số seri sim 8984048000916094518, là công cụ mà bị cáo Mai Văn V sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- Về dân sự:
Đối với số tiền 246.607.620 đồng, là tiền gốc bị cáo Mai Văn V dùng vào việc cho vay lãi nặng mà những người vay tiền đã trả cho bị cáo Mai Văn V và số tiền 2.895.888 đồng lãi theo quy định, cần truy thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với tổng số tiền 68.392.380 đồng, là tiền gốc mà những người vay tiền chưa trả cho bị cáo Mai Văn V nên buộc những người vay tiền phải nộp sung ngân sách nhà nước, cụ thể:
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D nộp lại số tiền 7.238.095 đồng.
- Chị Lê Thị Thanh N nộp lại số tiền 24.285.714 đồng.
- Chị Đỗ Thị Cẩm N1 nộp lại số tiền 7.200.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T1 nộp lại số tiền 6.240.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị H nộp lại số tiền 3.428.571 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Thu K nộp lại số tiền 9.047.619 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Bích N3 nộp lại số tiền 952.381 đồng.
- Anh Thái Văn H1 nộp lại số tiền 10.000.000 đồng.
Đối với số tiền 77.996.492 đồng (gồm 62.496.492 đồng tiền lãi vượt mức lãi suất quy định và 15.500.000 đồng tiền phí cho vay), là số tiền bị cáo Mai Văn V thu lợi bất chính nên buộc bị cáo Mai Văn V trả lại cho những người vay tiền, cụ thể:
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc D số tiền 8.087.684 đồng.
- Trả lại cho chị Lê Thị Thanh N số tiền 12.474.756 đồng.
- Trả lại cho Đỗ Thị Cẩm N1 số tiền 4.524.658 đồng.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 4.751.507 đồng.
- Trả lại cho anh Nguyễn Trọng S số tiền 10.797.260 đồng.
- Trả lại cho chị Trần Thị N2 số tiền 4.450.411 đồng.
- Trả lại cho Nguyễn Thị H số tiền 1.675.968 đồng.
- Trả lại cho Nguyễn Thị Thu K số tiền 7.206.524 đồng.
- Trả lại cho Nguyễn Thị Bích N3 số tiền 2.648.271 đồng.
- Trả lại cho anh Thái Văn H1 số tiền 21.379.453 đồng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 3/2024 đến tháng 5/2024, tại địa bàn thành phố B, bị cáo Mai Văn V đã cho 10 người vay tiền, với tổng số tiền cho vay là 315.000.000 đồng, với mức lãi suất cho vay từ 365%/năm đến 543,15%/năm, cao gấp từ 18,25 lần đến 27,16 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự và đã thu lợi bất chính tổng số tiền là 77.996.492 đồng thì bị phát hiện. Như vậy hành vi của bị cáo Mai Văn V đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự;
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
[3]. Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng và gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo số tiền 50.000.000đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[6]. Về việc khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật hình sự: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
[7]. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Đỗ Thị Cẩm N1, 01 Căn cước công dân mang tên Lê Thị Thanh N, 01 Giấy phép lái xe của Nguyễn Thị Ngọc D và 01 Giấy khai sinh của Nguyễn Như Hoàng V1, là giấy tờ thuộc sở hữu, quản lý hợp pháp của chị Đỗ Thị Cẩm N1, chị Lê Thị Thanh N và chị Nguyễn Thị Ngọc D, đã đưa cho bị cáo giữ trong quá trình vay tiền của bị cáo Mai Văn V. Ngày 06/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại các giấy tờ trên cho chị Đỗ Thị Cẩm N1, chị Lê Thị Thanh N và chị Nguyễn Thị Ngọc D quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của Đỗ Thị Cẩm N1, 01 Giấy vay tiền ngày 12/5/2024 của Lê Thị Thanh N, 01 Giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của Nguyễn Thị Thanh T1 và 01 Giấy vay tiền ngày 04/4/2024 của Nguyễn Thị Ngọc D, là các tài liệu có liên quan đến hoạt động vay tiền của bị cáo Mai Văn V, là các vật chứng của vụ án nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI: 868066044931899, gắn sim mạng Viettel số thuê bao 0348.659.xxx, có số seri sim 8984048000916094518, là công cụ mà bị cáo Mai Văn V sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước
Đối với số tiền 246.607.620 đồng, là tiền gốc bị cáo Mai Văn V dùng vào việc cho vay lãi nặng mà những người vay tiền đã trả cho bị cáo Mai Văn V và số tiền 2.895.888 đồng lãi theo quy định, cần truy thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với tổng số tiền 68.392.380 đồng, là tiền gốc mà những người vay tiền chưa trả cho bị cáo Mai Văn V, đây là số tiền bị cáo Mai Văn V dùng vào việc cho vay lãi nặng nên buộc những người vay tiền phải nộp sung ngân sách nhà nước, cụ thể:
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D nộp lại số tiền 7.238.095 đồng.
- Chị Lê Thị Thanh N nộp lại số tiền 24.285.714 đồng.
- Chị Đỗ Thị Cẩm N1 nộp lại số tiền 7.200.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T1 nộp lại số tiền 6.240.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị H nộp lại số tiền 3.428.571 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Thu K nộp lại số tiền 9.047.619 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Bích N3 nộp lại số tiền 952.381 đồng.
- Anh Thái Văn H1 nộp lại số tiền 10.000.000 đồng.
Đối với số tiền 77.996.492 đồng (gồm 62.496.492 đồng tiền lãi vượt mức lãi suất quy định và 15.500.000 đồng tiền phí cho vay), là số tiền bị cáo Mai Văn V thu lợi bất chính nên buộc bị cáo Mai Văn V trả lại cho những người vay tiền, cụ thể:
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc D số tiền 8.087.684 đồng.
- Trả lại cho chị Lê Thị Thanh N số tiền 12.474.756 đồng.
- Trả lại cho Đỗ Thị Cẩm N1 số tiền 4.524.658 đồng.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 4.751.507 đồng.
- Trả lại cho anh Nguyễn Trọng S số tiền 10.797.260 đồng.
- Trả lại cho chị Trần Thị N2 số tiền 4.450.411 đồng.
- Trả lại cho Nguyễn Thị H số tiền 1.675.968 đồng.
- Trả lại cho Nguyễn Thị Thu K số tiền 7.206.524 đồng.
- Trả lại cho Nguyễn Thị Bích N3 số tiền 2.648.271 đồng.
- Trả lại cho anh Thái Văn H1 số tiền 21.379.453 đồng.
[8]. Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án:
- Đối với chị Nguyễn Thị Á, chị H Tha Vi S1, chị Đỗ Thị C1, anh Y Hiếu H4, anh Đỗ Ngọc T2 và anh Phạm Quang C2 thì Cơ quan điều tra chưa triệu tập làm việc được để xác định có vay tiền của bị cáo Mai Văn V hay không nên Cơ quan điều tra tách ra khỏi hồ sơ vụ án, tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
- Đối với Lê Công A, Nguyễn Văn Đ: Các đối tượng này hoạt động cho vay lãi nặng độc lập, không liên quan nhau và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.
- Đối với chị Ngô Thị T (là vợ của bị cáo Mai Văn V) là người đứng tên tài khoản số 19036699715013 Ngân hàng Ngân hàng TMCP K1: Quá trình điều tra xác định, chị T giao tài khoản trên cho bị cáo Mai Văn V sử dụng và không biết việc bị cáo V thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Ngô Thị T là phù hợp.
- Đối với anh Đinh Công H2 là quản lý, là lễ tân của Khách sạn N4 và chị Lương Thị Thúy H3, là chủ Phòng trọ số F hẻm E N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, không biết việc bị cáo Mai Văn V sử dụng căn phòng đã thuê làm địa điểm thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không để cập xử lý đối với anh Đinh Công H2 và chị Lương Thị Thúy H3 là phù hợp.
[9]. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 201 Bộ luật hình sự;
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
[2]. Về hình phạt chính:
Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i; s khoản 1, Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai Văn V 18 tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 28/5/2024 là 04 ngày bằng 12 ngày Cải tạo không giam giữ. Bị cáo Mai Văn V còn phải chấp hành hình phạt là 17 tháng 18 ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.
Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập.
Giao bị cáo Mai Văn V cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự;
Phạt bổ sung bị cáo Mai Văn V số tiền 50.000.000đồng Sung vào Ngân sách Nhà nước.
[4]. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Mai Văn V tổng số tiền 249.503.508 đồng (tiền gốc bị cáo Mai Văn V dùng vào việc cho vay lãi và số tiền lãi theo quy định).
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước của những người vay (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) với tổng số tiền 68.392.380 đồng, là tiền gốc mà những người vay tiền chưa trả cho bị cáo Mai Văn V, cụ thể, truy thu của:
- + Chị Nguyễn Thị Ngọc D số tiền 7.238.095 đồng.
- + Chị Lê Thị Thanh N số tiền 24.285.714 đồng.
- +Chị Đỗ Thị Cẩm N1 số tiền 7.200.000 đồng.
- + Chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 6.240.000 đồng.
- + Chị Nguyễn Thị H số tiền 3.428.571 đồng.
- + Chị Nguyễn Thị Thu K số tiền 9.047.619 đồng.
- + Chị Nguyễn Thị Bích N3 số tiền 952.381 đồng.
- + Anh Thái Văn H1 nộp lại 10.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo Mai Văn V phải trả lại tổng số tiền 77.996.492 đồng (gồm 62.496.492 đồng tiền lãi vượt mức lãi suất quy định và 15.500.000 đồng tiền phí cho vay), cụ thể:
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc D số tiền 8.087.684 đồng.
- + Trả lại cho chị Lê Thị Thanh N số tiền 12.474.756 đồng.
- + Trả lại cho Đỗ Thị Cẩm N1 số tiền 4.524.658 đồng.
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 4.751.507 đồng.
- + Trả lại cho anh Nguyễn Trọng S số tiền 10.797.260 đồng.
- + Trả lại cho chị Trần Thị N2 số tiền 4.450.411 đồng.
- + Trả lại cho Nguyễn Thị H số tiền 1.675.968 đồng.
- + Trả lại cho Nguyễn Thị Thu K số tiền 7.206.524 đồng.
- + Trả lại cho Nguyễn Thị Bích N3 số tiền 2.648.271 đồng.
- + Trả lại cho anh Thái Văn H1 số tiền 21.379.453 đồng.
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI: 868066044931899, gắn sim mạng Viettel số thuê bao 0348.659.xxx, có số seri sim 8984048000916094518 của bị cáo Mai Văn V sử dụng vào việc phạm tội.
(Các vật chứng, tài sản có đặc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản, ngày 18/10/2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột).
- Chấp nhận ngày 06/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu cho chị Đỗ Thị Cẩm N1, chị Lê Thị Thanh N và chị Nguyễn Thị Ngọc D nhận quản lý, sử dụng, bao gồm: 01 Căn cước công dân mang tên Đỗ Thị Cẩm N1, 01 Căn cước công dân mang tên Lê Thị Thanh N, 01 Giấy phép lái xe của Nguyễn Thị Ngọc D và 01 Giấy khai sinh của Nguyễn Như Hoàng V1.
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 Giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của chị Đỗ Thị Cẩm N1, 01 Giấy vay tiền ngày 12/5/2024 của Lê Thị Thanh N, 01 Giấy vay tiền ngày 24/3/2024 của chị Nguyễn Thị Thanh T1 và 01 Giấy vay tiền ngày 04/4/2024 của chị Nguyễn Thị Ngọc D.
[5]. Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án:
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau đối với chị Nguyễn Thị Á, chị H Tha Vi S1, chị Đỗ Thị C1, anh Y Hiếu H4, anh Đỗ Ngọc T2 và anh Phạm Quang C2.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý trong vụ án này đối với anh Lê Công A, anh Nguyễn Văn Đ và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trong vụ án khác.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với chị Ngô Thị T (là vợ của bị cáo Mai Văn V) là người đứng tên tài khoản số 19036699715013 Ngân hàng Ngân hàng TMCP K1 và anh Đinh Công H2, là quản lý, lễ tân của Khách sạn N4 và chị Lương Thị Thúy H3 là chủ Phòng trọ số F hẻm E N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
[6]. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo Mai Văn V phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- - Phòng KTNV&THATAND Đắk Lắk;
- - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TAND tối cao;
- - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- - VKSND TP. BMT;
- - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- - Công an TP. Buôn Ma Thuột;
- - CCTHADS TP. Buôn Ma Thuột;
- - THA phạt tù TP. Buôn Ma Thuột;
- - Bị cáo, các đương sự; Lưu HS+ VP
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 330/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 330/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn Vũ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. [2]. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i; s khoản 1, Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn Vũ 18 tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 28/5/2024 là 04 ngày bằng 12 ngày Cải tạo không giam giữ. Bị cáo Mai Văn Vũ còn phải chấp hành hình phạt là 17 tháng 18 ngày cải tạo không giam giữ.
