Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 306/2024/HS-ST

Ngày 30-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hạng Minh Thu và bà Trần Thanh Vân.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thùy Dương, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 293/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 5 năm 1985,

tại Thái Nguyên; nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ F, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Phương L và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2007/HSST ngày 25/12/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Nguyễn Văn H 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024 đến ngày 29/5/2024 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh”, hiện đang tại ngoại tại địa phương, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2024 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Danh H1, sinh năm 1999, địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Tuấn B1, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Anh Dương Đình H2, sinh năm 1989, địa chỉ: Xóm H, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 2003, địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Anh Đặng Minh T2, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Anh Bùi Quang H3, sinh năm 1990, địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Anh Trương Hùng M, sinh năm 1975, địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Anh Hoàng Phùng H4, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Anh Đặng Việt B2, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Ông Vũ Đình H5, sinh năm 1962, địa chỉ: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị H6, sinh năm 1960, địa chỉ: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  • - Bà Vũ Thị H7, sinh năm 1953, địa chỉ: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01/5/2024, tổ công tác của phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T gồm các đồng chí: Dương Đình H2, Hoàng Phùng H4, Nguyễn Minh T3, Lao Hoàng H8, Trương Hùng M phối hợp với các đồng chí Bùi Danh H1, Nguyễn Đức T1, Ngô Xuân H9 là cán bộ Phòng Cảnh sát cơ động, Công an tỉnh T tiến hành lập chốt kiểm soát nồng độ cồn tại Km59 + 600 – Quốc lộ C đoạn thuộc tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Khi làm nhiệm vụ các đồng chí mặc trang phục Cảnh sát giao thông và trang phục Cảnh sát cơ động theo đúng quy định.

Khoảng 13 giờ 05 phút cùng ngày, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Cross mang BKS 20A – 782.57, Nguyễn Tuấn B1 là anh họ của H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning mang BKS 20D – 012.44 cùng di chuyển trên đường Q (đường C) theo hướng Thái Nguyên đi Hà Nội thuộc tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thì gặp chốt kiểm soát nồng độ cồn Phòng C Công an tỉnh T. Thấy hai phương tiện trên di chuyển đến, đồng chí Trương Hùng M đã ra hiệu lệnh yêu cầu hai phương tiện di chuyển vào lề đường để kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện. Khi H và B1 xuống xe thì lần lượt đồng chí Trương Hùng M tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Nguyễn Văn H, đồng chí Dương Đình H2 kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Nguyễn Tuấn B1. Tuy nhiên, H và B1 đều không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn của tổ công tác. B1 cố ý đi vào khu vực cửa nhà dân gần đó để tránh né việc kiểm tra, thấy vậy đồng chí Dương Đình H2 đi theo để yêu cầu B1 chấp hành. B1 tiếp tục tránh đồng chí H2 thì đồng chí Hưng tiến đến trước mặt của B1 để cản lại khiến cả hai cùng ngã xuống đất, đồng chí H2 ngã ngửa xuống nền đất còn B1 ngã đè lên người đồng chí H2, do thấy đồng chí H2 bị ngã, đồng chí Bùi Danh H1 lập tức tiến đến để hỗ trợ. Cùng lúc này, H xông đến rồi dùng tay kẹp cổ đồng chí H1, túm vào túi áo phía trước bên trái của đồng chí Hàn kéo đồng chí H1 về phía sau nhằm cản trở việc đồng chí Hàn thực hiện nhiệm vụ. Sau đó, các đồng chí trong tổ công tác cùng đồng chí Hàn khống chế H, báo sự việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T phối hợp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn H về hành vi “Chống người thi hành công vụ”.

Hậu quả: Đồng chí Bùi Danh H1 bị bầm tím cổ tay phải kích thước 4 x 0,7cm.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 659/KLTTCT-TTPY ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bùi Danh H1 là 0%.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của H phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 286/CT-VKSTPTN ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với mức án thấp nhất để bị cáo rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H:

Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 01/5/2024, tại tổ I, phường T, thành phố T, Tổ công tác kiểm soát nồng độ cồn của Phòng C Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Văn H là điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Cross mang BKS 20A – 782.57 và Nguyễn Tuấn B1 anh họ của H là người điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning mang BKS 20D – 012.44. Tuy nhiên, H và B1 đều không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn của tổ công tác, tránh né việc kiểm tra, đồng chí Bùi Danh H1 cùng hỗ trợ đồng chí Dương Đình H2 yêu cầu H, B1 chấp hành. Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng tay phải kẹp cổ, túm vào túi áo phía trước bên trái của đồng chí Bùi Danh H1, kéo đồng chí H1 về phía sau nhằm cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của đồng chí H1. Hành vi của H đã gây bầm tím cổ tay phải của đồng chí Hàn đồng thời cản trở hoạt động công vụ của đồng chí H1.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 330 Bộ luật Hình sự, như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ công, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy: Bị cáo có 01 nhân thân, năm 2007 bị Tòa án xét xử về tội Cướp tài sản. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ tỏ ra thực sự ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội đã tự nguyện bồi thường cho anh H1 số tiền 2.000.000 đồng, anh H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Năm 2007 bị cáo đã bị kết án 04 năm tù về tội Cướp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, được địa phương xác nhận; bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy, bị cáo H có đủ điều kiện được hưởng án treo, việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hại cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, tại địa phương.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh H1 số tiền 2.000.000 đồng, anh H1 không có yêu cầu, đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với anh Nguyễn Tuấn B1 đã có hành vi không chấp hành hiệu lệnh của tổ công tác Cảnh sát giao thông khi được yêu cầu. Sau đó, khi đồng chí H2 tiếp cận đứng trước mặt B1 để yêu cầu B1 chấp hành, B1 cố tình bỏ đi khiến đầu gối va vào đồng chí H2 khiến cả hai ngã xuống đất. Bản thân B1 khai nhận không có mục đích tấn công hoặc cản trở đồng chí H2 thi hành công vụ, chỉ nhằm tránh né việc kiểm tra nồng độ cồn. Hành vi của Nguyễn Tuấn B1 không cấu thành tội phạm “Chống người thi hành công vụ” quy định tại Điều 330 Bộ luật Hình sự. Ngày 01/5/2024, Phòng C Công an tỉnh T đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với B1 về hành vi “Điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligram đến 0,4 miligram/01 lít khí thở và không có giấy phép lái xe là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Danh H1, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Nhàn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 306/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội "chống người thi hành công vụ"

  • Số bản án: 306/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Chống người thi hành công vụ"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hải - Chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger