Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 330/2024/DS-PT

Ngày: 05-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 313/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 282/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1951.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc Đ, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số B, đường P, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Số B, đường số A, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.

(Theo Giấy ủy quyền công chứng số 5002, quyển số 07/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/7/2024 tại Văn phòng C1)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Mai Bá P, sinh năm: 1981.
  2. Địa chỉ: Số B, đường P, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.

  3. Văn phòng Công chứng Phạm Quốc T1.
  4. Địa chỉ: Số A, đường L nối dài, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T1 – Trưởng Văn phòng.

  5. Bùi Thị Đ1, sinh năm 1957.
  6. Địa chỉ: Số A, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

(Ông T, ông C có mặt; Ông P, ông T1, bà Đ1 có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/5/2023 và trong quá trình tố tụng người đại diện của nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày: Ngày 05/3/2020, ông Lê Văn T với bà Lê Thị Ngọc Đ giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 905 tại Văn phòng C2 để chuyển quyền thửa đất số 104, diện tích: 13.094m², thửa số 114, diện tích: 6.548m² và thửa số 158, diện tích: 8.118m²; tổng diện tích: 27.760m²; cùng tờ bản đồ số 4; loại đất: RSX, tọa lạc tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An với giá là 1.080.000.000 đồng, nhưng khi làm hợp đồng chuyển nhượng thì ghi giá 831.000.000 đồng để giảm tiền nộp thuế. Ông T đã giao hết các giấy tờ cho bà Đ làm thủ tục chuyển quyền nhưng ông T chưa nhận được tiền chuyển nhượng đất từ bà Đ. Vì trước đây ông T có chuyển quyền cho bà Đ, ông Mai Bá P 04 ha đất và bà Đ, ông P có trả tiền đầy đủ nên lần chuyển nhượng này ông T cho bà Đ, ông P trả tiền sau. Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì ông P, bà Đ không trả tiền cho ông T. Hiện nay, các thửa đất bà Đ nhận chuyển nhượng từ ông T thì bà Đ đã chuyển nhượng lại cho mẹ ruột là bà Bùi Thị Đ1. Biên nhận ngày 05/3/2020 do ông T viết và ký tên khi công chứng các hợp đồng chuyển nhượng cho bà Đ tại Văn phòng C2, nhưng ông T chưa nhận tiền từ bà Đ. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có mặt bà Đ.

Ông T yêu cầu bà Đ và ông P trả cho ông T tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 831.000.000 đồng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký ngày 05/3/2020.

Bị đơn bà Lê Thị Ngọc Đ do người đại diện trình bày: Ngày 05/3/2020, ông T với bà Đ có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C2 với giá 831.000.000 đồng. Bà Đ đã giao đủ tiền 831.000.000 đồng cho ông T nhận và có viết biên nhận ngày 05/3/2020 tại nhà bà Đthành phố T. Nội dung biên nhận do bà Đ viết, còn ông T ký tên và ghi rõ họ tên vào biên nhận. Bà Đ đã đứng tên quyền sử dụng đất và đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho mẹ ruột là bà Bùi Thị Đ1 ngày 05/5/2020; phía ông T đã giao đất cho bà Đ nhận và bà Đ đã giao đất cho bà Đ1 sử dụng từ năm 2020 nên bà Đ không đồng ý theo yêu cầu của ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Mai Bá P do người đại diện trình bày: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/3/2020 ông P, bà Đ đã thanh toán đủ tiền và có biên nhận do ông T ký nhận tiền của bà Lê Thị Ngọc Đ nên không đồng ý theo yêu cầu của ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Phạm Quốc T1 do người đại diện trình bày: Ngày 05/3/2020, Văn phòng C2 có chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 104, 114, 158, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An giữa ông Lê Văn T với bà Lê Thị Ngọc Đ đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Ông T1 khẳng định tại thời điểm công chứng hợp đồng không thấy cũng như không biết việc giao tiền giữa các bên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Đ1 trình bày: Ngày 05/5/2020, bà Đ1 được bà Đ, ông P làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất các thửa số 158, 114, 104, 58, 201, 206, 349; tờ bản đồ số 4, tổng diện tích 71.189m², tọa lạc tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Bà Đ1 đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định pháp luật và đã nhận đất quản lý trực tiếp sử dụng đất cho đến nay.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thị xã Kiến Tường đã tuyên:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T đối với bà Lê Thị Ngọc Đ về yêu cầu thanh toán số tiền 831.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn T với bà Lê Thị Ngọc Đ, tại các thửa đất số 104, 114, 158; tờ bản đồ số 4, loại đất: RSX, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An; công chứng số 905 ngày 05/3/2020 tại Văn phòng C2, thành phố T, tỉnh Long An.
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn T phải chịu 15.064.000 đồng, ông T đã nộp tạm ứng và chi phí hết.
  3. Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Văn T được miễn nộp tiền án phí.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 06/05/2024, ông Lê Văn T kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc bà Lê Thị Ngọc Đ phải trả cho ông T số tiền theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/03/2020 là 831.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm :

Ông Lê Văn T trình bày: Biên nhận ngày 05/3/2020 do ông T viết và ký tên khi công chứng các hợp đồng chuyển nhượng cho bà Đ tại Văn phòng C2, nhưng ông T chưa nhận tiền từ bà Đ.

Ông Nguyễn Minh C đại diện bà Đ trình bày: Bà Đ đã giao cho ông T số tiền là 831.000000 đồng. Ông T đã nhận tiền và ký tên vào biên nhận ngày 05/3/2020 nên yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm, không đồng ý với kháng cáo của ông T.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  1. Về chấp hành pháp luật:
  2. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án. Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Ông Lê Văn T kháng cáo đảm bảo đúng các nội dung quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  3. Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án:
  4. Ngày 06/05/2024, ông Lê Văn T kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, yêu cầu Tòa án giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc bà Lê Thị Ngọc Đ phải trả số tiền theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/03/2020 là 831.000.000 đồng.

    Xét thấy, ngày 05/3/2020, ông Lê Văn T với bà Lê Thị Ngọc Đ giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số: 905 tại Văn phòng C2 để chuyển quyền thửa đất số 104, 114 và 158, tổng diện tích: 27.760m², cùng tờ bản đồ số 4, loại đất: RSX, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An với giá là 831.000.000 đồng. Bà Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K xác nhận chuyển quyền ngày 16/3/2020 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CV174055 ngày 20/02/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn T. Ngày 23/3/2020, bà Đ được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp lại Giấy chứng nhận số CV 174348 tại thửa số 114; số CV174347 tại thửa số 104 và số CV174349 tại thửa số 158. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T với bà Đ tại các thửa số 104, 114, 158 đã được các bên giao kết đúng hình thức, trình tự và thủ tục theo quy định tại các Điều 119, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 nên hợp đồng có hiệu lực theo Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm đăng ký đất đai.

    Xét thấy, ông T đã giao các thửa đất số 104, 114, 158 cho bà Đ và bà Đ đã tặng cho các thửa đất cho bà Đ1. Tuy nhiên, ông T cho rằng bà Đ chưa thanh toán số tiền 831.000.000 đồng, nhưng theo Biên nhận tiền ngày 05/3/2020 và sự thừa nhận của ông M đại diện ông T thì chữ ký và chữ viết tên trên tờ biên nhận là do ông T ký và viết ra nên có căn cứ xác định bà Đ đã thanh toán cho ông T số tiền 831.000.000 đồng vào ngày 05/3/2020. Ngoài ra, bà Võ Thị Thế V thừa nhận không có chứng kiến việc giao dịch chuyển nhượng đất của ông T với bà Đ vào ngày 05/3/2020 và bà V là người đang sống chung như vợ chồng với ông T nên bà V khai làm chứng cho rằng bà Đ chưa thanh toán số tiền 831.000.000 đồng cho ông T là không có giá trị chứng cứ.

    Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Văn T đảm bảo đúng các nội dung quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xử vắng mặt đương sự.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

[4] Xét kháng cáo của ông Lê Văn T, thấy rằng:

[4.1] Ông T và bà Đ thừa nhận, ngày 05/3/2020, ông T và bà Đ giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số: 905 tại Văn phòng C2 để chuyển quyền thửa đất số 104, 114 và 158; tổng diện tích: 27.760m²; cùng tờ bản đồ số 4; loại đất: RSX, tọa lạc tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An với giá là 831.000.000 đồng. Ông T thừa nhận đã ký tên vào Giấy biên nhận tiền ngày 05/3/2020, chữ ký tên “Tôn” và chữ viết tên “Lê Văn T” trong Giấy biên nhận tiền ngày 05/3/2020 là của ông T viết và ký tên. Đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo điều 92 của của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4.2] Ông T cho rằng ông chỉ ký tên vào Giấy biên nhận tiền ngày 05/3/2020 tại Văn phòng C2 khi ký tên vào các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đ chứ không phải ký tên vào Giấy biên nhận tiền ngày 05/3/2020 tại nhà bà Đ và bà Đ không có giao tiền cho ông. Ông C đại diện cho bà Đ cho rằng bà Đ đã giao 831.000.000 đồng cho ông T tại nhà bà Đ. Thấy rằng, Giấy biên nhận tiền ngày 05/3/2020 đã ghi rõ: “Bà Lê Thị Ngọc Đ đã giao và ông Lê Văn T đã nhận số tiền là: 831.000.000 đồng thanh toán hợp đồng chuyển nhượng 05/3/2020 diện tích 27.760m² tại xã T, K, Long An”. Ông T cho rằng ông T chưa nhận số tiền 831.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[4.3] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số: 905 tại Văn phòng C2 để chuyển quyền thửa đất số 104, 114 và 158; tổng diện tích: 27.760m²; cùng tờ bản đồ số 4; loại đất: RSX, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An với giá là 831.000.000 đồng và bà Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K xác nhận chuyển quyền ngày 16/3/2020 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CV174055 ngày 20/02/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn T. Ngày 23/3/2020, bà Đ được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp lại Giấy chứng nhận số CV 174348 tại thửa số 114; số CV174347 tại thửa số 104 và số CV174349 tại thửa số 158. Như vậy, Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa ông T với bà Đ tại các thửa số 104, 114, 158 đã được các bên giao kết đúng hình thức, trình tự và thủ tục theo quy định tại các Điều 119, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 nên hợp đồng có hiệu lực theo Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm đăng ký đất đai.

Đ trình bày ông T đã giao các thửa đất số 104, 114, 158 cho bà Đ, bà Đ đã tặng cho các thửa đất này cho bà Đ1 nên không có tranh chấp gì với ông T, vì vậy cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.

[5] Phát biểu của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T có đơn xin miễn án phí do là người cao tuổi nên ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ Luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 157, 165, 271, 273, 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào các Điều 117, 119, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T đối với bà Lê Thị Ngọc Đ về việc yêu cầu thanh toán số tiền 831.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn T với bà Lê Thị Ngọc Đ, tại các thửa đất số 104, 114, 158; tờ bản đồ số 4, loại đất: RSX, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An; công chứng số 905 ngày 05/3/2020 tại Văn phòng C2, thành phố T, tỉnh Long An.
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn T phải chịu 15.064.000 đồng (Mười lăm triệu, không trăm sáu mươi bốn nghìn đồng), ông T đã nộp đủ.
  3. Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Văn T được miễn.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn T được miễn.
  5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND thị xã Kiến Tường;
  • - Chi cục THADS thị xã Kiến Tường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 330/2024/DS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 330/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger