| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 330/2025/HS-ST
Ngày: 27/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Lý;
- Ông Dương Hoàng Chinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Trần Thanh S, sinh năm: 1993; tại Đồng Nai, mã định danh: 075093013991; thường trú: ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: công nhân Công ty Cổ phần S3; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Thanh S1 và bà Nguyễn Thị C; có vợ 01 con sinh năm: 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 17/5/2023 đến ngày 28/7/2023 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.(có mặt tại phiên tòa)
2/ Phạm Bảo A, giới tính: N, sinh năm: 1989; tại Đồng Nai; mã định danh: 075089000313; tên gọi khác: Không; thường trú: số C, đường L, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn H và bà Lê Thị Kim N1; có vợ 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 17/5/2023 đến ngày: 28/7/2023 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị hại: Công ty Cổ phần S3; Mã số doanh nghiệp: 3501371762; Trụ sở: đường số C, khu công nghiệp P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Ngọc H1; Địa chỉ: nhà B Chung cư T, số B đường L, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh – Đại diện theo ủy quyền
(có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/8/2022, Công ty Cổ phần S3 (Công ty S3) ký hợp đồng thử việc với Trần Thanh S và giao nhiệm vụ với chức danh thủ kho (theo Hợp đồng số 01689/2022/HĐTV-VHCCNC, ngày 01/8/2022) làm việc tại Chi nhánh T1 thuộc phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian làm việc, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, ngày 22/12/2022, S đã cấu kết với Phạm Bảo A là nhân viên lái xe bồn (biển số xe: 51D- 190.55) của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 (Công ty Đ2) chiếm đoạt của Công ty S3 số lượng 6.000 lít dầu DO trị giá 128.820.000 đồng. Cụ thể như sau: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (Công ty T2) do bà Trần Thị S2 làm Giám đốc, ký hợp đồng cung ứng xăng dầu với Công ty S3 do ông Hoa Xuân H2 làm Giám đốc, ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc H1 tham gia tố tụng, đồng thời ký hợp đồng với đơn vị vận chuyển là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 (Công ty Đ2) do ông Phan Viết Đ làm Giám đốc. Ngày 21/12/2022 Công ty S3 có đặt hàng 26.000 lít dầu (Trong đó: 8.000 lít giao về Chi nhánh tại T; 8.000 lít giao về chi nhánh N2, Đồng Nai và 10.000 lít giao về chi nhánh N3). Ngày 22/12/2022, Công ty T2 cử tài xế Phạm Bảo A điều khiển xe ô tô biển số 51D-190.55 đã giao đủ số lượng 18.000 lít dầu DO cho 02 Chi nhánh là Nhà B và Đồng Nai. Riêng số lượng 8.000 lít dầu DO giao cho Chi nhánh T1 thì trước khi giao Bảo A gọi điện thoại thông báo cho Trần Thanh S là Thủ kho biết. S nói với Bảo A có 6.000 lít dầu DO dư cần bán. Nếu Bảo A mua thì Bảo A chỉ cần vận chuyển 2.000 lít dầu nhập vào bồn Chi nhánh T1 còn lại 6.000 lít Bảo A lấy. Mặc dù biết rõ là S thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt số lượng dầu DO nhưng Bảo A vẫn đồng ý mua và báo giá là 16.600 đồng/lít x 6.000 lít = 99.600.000 đồng. S đồng ý bán dầu DO cho Bảo A. Sau khi thỏa thuận, ngày 22/12/2022 Bảo A điều khiển xe bồn biển số 51D-190.55 đến Tổng kho xăng dầu Nhà Bè nhận số lượng 2.000 lít dầu DO, sau đó vận chuyển đến Công ty S3 chi nhánh T1 giao cho Trần Thanh S. S đã làm phiếu cân xe giả để thể hiện trọng tải xe bồn đang vận chuyển tương đương với số lượng 8.000 lít dầu để tránh sự phát hiện của Công ty S3. Mặc dù, Bảo A chỉ giao 2.000 lít dầu DO cho S nhưng giữa Bảo A và S đã lập biên bản giao nhận số lượng 8.000 lít dầu DO. Đối với 6.000 lít dầu còn lại, Bảo A gửi lại Tổng kho xăng dầu Nhà B và nhờ Phan Viết Đ chuyển vào tài khoản của Trần Thanh S số tiền 99.600.000 đồng mua dầu của S. Ngày 25/12/2022, S báo cáo có sự cố tràn dầu tại Công ty S3 chi nhánh T1. Sau khi đoàn kiểm tra của Công ty S3 kiểm tra thực tế thì số lượng dầu DO bị thiếu hụt là 8.632 lít nên trình báo với Cơ quan Công an. Quá trình điều tra, Trần Thanh S và Phạm Bảo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản Kết luận định giá tài sản số 86, ngày 07/3/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 6.000 lít dầu DO, tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 128.820.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- Phiếu cân xe giả; Phiếu gửi dầu; Sao kê tài khoản; Phiếu ký xác nhận giao 8.000 lít dầu giữa Trần Thanh S và Bảo A; Lệnh xuất kho 6000 lít dầu DO
- USB ghi lại hình ảnh thực nghiệm điều tra
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Trần Thanh S và Phạm Bảo A đã hoàn trả đầy đủ số lượng 6000 lít dầu DO cho Công ty S3. Đại diện Công ty S3 ông Nguyễn Ngọc H1 không yêu cầu S và Bảo A bồi thường gì thêm.
[2] Bản Cáo trạng số 150/CT-VKSTPTĐ ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố các bị cáo Trần Thanh S và Phạm Bảo A về tội “Tham ô tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Trần Thanh S và Phạm Bảo A phạm tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả và được bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về phần dân sự bị hại đã nhận bồi thường. Phần dân sự đã giải quyết xong.
Về phần vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Mức án đề nghị:
Bị cáo Trần Thanh S từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Bị cáo Phạm Bảo A từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, cấm các bị cáo Trần Thanh S, Phạm Bảo A đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn 01 (một) năm đến 02 (hai) năm.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa.
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội chăm lo cho gia đình và làm người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Biên bản tiếp nhận nguồn tin tố giác về tội phạm, các biên bản (tạm giữ đồ vật - tài liệu; thu giữ vật chứng; thực nghiệm điều tra), bản kết luận định giá tài sản; cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng khác của C1 điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: lợi dụng nhiệm vụ được giao là thủ kho (theo Hợp đồng số 01689/2022/HĐTV-VHCCNC, ngày 01/8/2022) của Công ty cổ phần S3 thuộc phường T, thành phố T, ngày 22/12/2022 tại Trần Thanh S đã lợi dụng quyền hạn, nhiệm vụ được giao, cấu kết với Phạm Bảo A là nhân viên lái xe bồn của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 đã chiếm đoạt của Công ty cổ phần S3 6.000 lít dầu DO. Theo định giá ngày 07/3/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T, có giá trị 128.820.000 đồng.
Như vậy, tài sản chiếm đoạt thuộc trường hợp: “có trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng” Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Trần Thanh S, Phạm Bảo A đã phạm tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Trần Thanh S và đồng bọn đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Xét các bị cáo phạm tội trong vụ án này mang tính chất đồng phạm giản đơn, hành vi của bị cáo Phạm Bảo A là đồng phạm giúp sức cho Trần Thanh S thực hiện hành vi tham ô tài sản.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, các bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Các bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của mình, sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng để có tiền tiêu xài đã cố tình phạm tội thể hiện các bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo bằng hình phạt nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo, để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội các bị cáo đều có nghề nghiệp và việc làm ổn định xem xét cho các bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phạm Bảo A phạm tội với vai trò là người giúp sức trong vụ án đồng phạm, nhất thời phạm tội, có nhân thân tốt nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
[4] Áp dụng khoản 5 Điều 353 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử cấm các bị cáo Trần Thanh S, bị cáo Phạm Bảo A đảm nhiệm các chức vụ quản lý khi làm các công việc liên quan đến việc quản lý tài sản trong thời hạn 01 (một) năm.
[5] Đối với vụ án này tại bản án hình sự phúc thẩm số 135/2024/HS-PT ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã hủy vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung một số nội dung, liên quan đến quy trình nhập hàng hóa là xăng dầu và trách nhiệm của từng cá nhân trong việc nhập 8000 lít dầu DO tại công ty S3 – Chi nhánh T1 để làm rõ trách nhiệm của các cá nhân trong việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn được giao dẫn đến việc các bị cáo thực hiện hành vi tham ô tài sản gây thiệt hại về tài sản nghiêm trọng trong vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời làm rõ quy trình lấy hàng hóa tại Tổng kho xăng dầu Nhà Bè để làm căn cứ tiếp tục đấu tranh với Phan Tấn Đ1, Phạm Bảo A và người có trách nhiệm trong việc xuất kho tại Tổng kho xăng dầu Nhà Bà để làm rõ về ý thức và hành vi khách quan của Phan Tấn Đ1 và cá nhân khác (nếu có) trong việc thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nếu đủ cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm. Quá trình thu thập chứng cứ Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã điều tra bổ sung làm rõ các nội dung theo nhận định tại bản án phúc thẩm nêu trên.
Đối với Nguyễn Thanh B1 - Trưởng trạm sản xuất bê tông chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động chung tại trạm như đề nghị nhập vật tư, sản xuất và chịu trách nhiệm chính về sản phẩm bê tông tươi. Công ty S3 không giao trách nhiệm cho ông B1 liên quan đến việc xuất, nhập dầu DO nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (Nay là Công an Thành phố H) không xử lý ông B1 là có căn cứ.
Đối với Tổng kho xăng dầu Nhà Bè, khi tài xế đến lấy hàng phải xuất trình lệnh xuất kho (do đơn vị chủ hàng phát hành) có mã Code QR thể hiện thông tin cụ thể tên tài xế, biển số xe, số lượng cụ thể theo từng lệnh xuất kho mới được lấy hàng theo từng lệnh xuất kho trên. Sau khi lấy hàng xong, phía Tổng kho sẽ giao phiếu xuất kho hàng giữ hộ với số lượng mặt hàng tương ứng với lệnh xuất kho ban đầu cho tài xế ra khỏi cổng. Tổng kho xăng dầu N4 đã cung cấp thông tin tài liệu xác nhận thời gian Phạm Bảo A điều khiển xe 51D-190.55 đến lấy hàng. Do đó, việc Phạm Bảo A được công ty giao các lệnh xuất kho đến Tổng kho xăng dầu Nhà B lấy hàng giao cho Công ty S3 nhưng đã giữ lại lệnh xuất kho 6000 lít do thỏa thuận mua trước đó với Trần Thanh S là chủ ý của Phạm Bảo A, không liên quan đến Tổng kho xăng dầu Nhà Bè, do đó không có căn cứ xử lý.
Đối với Phan Viết Đ đã chuyển số tiền 99.600.000 đồng cho Phạm Bảo A mua 6.000 lít dầu DO của Trần Thanh S nhưng đây là tiền lương lái xe Đ trả cho Bảo A. Đồng thời, Đ không biết Bảo A lấy tiền để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý Đ là có căn cứ.
Đối với sự cố tràn dầu DO tại Công ty S3 – Chi nhánh T1 làm hao hụt 2.632 lít thì Trần Thanh S đã khắc phục bằng hình thức bồi thường tiền cho Công ty S3.
[6] Tại phiên tòa các bị cáo xác định do các bị cáo tự chủ ý thực hiện hành vi phạm tội, ngoài 2 bị cáo ra không có ai khác biết, đồng thời bị cáo S và bị cáo Bảo A xác định lần đầu tiên các bị cáo quen biết nhau và thực hiện hành vi phạm tội cùng nhau do nhất thời tham lam. Do đó cáo trạng truy tố các bị cáo về hành vi và tội danh nêu trên là đúng người đúng tội, phù hợp quy định pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Phiếu cân xe giả; Phiếu gửi dầu; Sao kê tài khoản; Phiếu ký xác nhận giao 8.000 lít dầu giữa Trần Thanh S và Bảo A; Lệnh xuất kho 6000 lít dầu DO; USB ghi lại hình ảnh thực nghiệm điều tra, được tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.
- Số tiền 99.600.000 đồng bị cáo Phạm Bảo A dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì khác, Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 38, điểm d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh S 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023 đến ngày 28/7/2023.
- Căn cứ Điều 38, điểm d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Bảo A 04 (bốn) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023 đến ngày 28/7/2023.
Áp dụng khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Cấm các bị cáo Trần Thanh S, bị cáo Phạm Bảo A đảm nhiệm các chức vụ quản lý khi làm các công việc liên quan đến việc quản lý tài sản trong thời hạn 01 (một) năm.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án: Phiếu cân xe giả; Phiếu gửi dầu; Sao kê tài khoản; Phiếu ký xác nhận giao 8.000 lít dầu giữa Trần Thanh S và Bảo A; Lệnh xuất kho 6000 lít dầu Do; USB ghi lại hình ảnh thực nghiệm điều tra;
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 99.600.000 đồng (chín mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng) bị cáo Phạm Bảo A đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000335 ngày 04/01/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Thảo |
Quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Các Hội thẩm nhân dânChủ tọa phiên tòa
Đỗ Thị Thu T
Bản án số 330/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 330/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội tham ô tài sản
