Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 330/2025/HS-ST.

Ngày 06 - 6 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Trương Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 326/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 330/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Thị Huyền T, sinh năm 1990 tại Bình Định (có mặt); Nơi thường trú: Khu phố T, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định; Nơi ở hiện nay: Số A N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đình H, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Đoàn Thị Kim D, sinh năm 1963 (đã chết); chồng là ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1990, có 02 con lớn sinh năm 2020 và nhỏ sinh ngày 12/5/2025.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo hiện đang bị cấm khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm khỏi nơi cư trú số: 676/2025/TA-LCĐKNCT ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

2. Họ và tên: Trương Huy V, sinh năm 1985 tại Hà Tĩnh (có mặt); Nơi thường trú: 176 đường A, khu phố E, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: 117/4/18 Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Xây dựng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Huy C1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; vợ bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1990, có 02 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 11/01/2025 đến ngày 16/01/2025. Ngày 16/01/2025 quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 101/LC-CSKT-Đ3 ngày 15/01/2025. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm khỏi nơi cư trú theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 677/2025/TA-LCĐKNCT ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Thị Huyền T và Trương Huy V nhận thấy người dân có nhu cầu mua pháo nổ vào dịp gần tết nên đã nảy sinh ý định buôn bán pháo nổ. Thực hiện ý định trên, T và V thường xuyên vào trang mạng xã hội “Facebook” và “Zalo” đăng thông tin mua, bán pháo nổ để mua về và bán cho người có nhu cầu để hưởng lợi.

Khoảng đầu tháng 01 năm 2025 (không rõ ngày), Phan Thị Huyền T truy cập vào mạng xã hội “Facebook” thì thấy tài khoản tên “D1” có đăng tin bán pháo nổ nên T đã liên hệ với “D1” và đặt mua 06 (sáu) hộp pháo nổ, loại 49 ống/hộp với giá 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng)/hộp. Sau đó, “D1” hẹn T vào ngày 11/01/2025 đến khu vực gần vòng xoay A thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương để nhận pháo nổ. Sáng ngày 11/01/2025, T đến điểm hẹn thì có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đeo khẩu trang, chạy xe mô tô (không rõ biển số) đến và đưa cho T 02 (hai) thùng giấy dán kín. Lúc này, T không kiểm tra bên trong mà đưa cho người đàn ông số tiền 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng) rồi chở 02 (hai) thùng giấy trên về nhà và không kiểm tra lại.

Khoảng 12 giờ ngày 11/01/2025, T thấy tài khoản “Facebook” của Trương Huy V đăng tin tìm mua pháo nổ nên T đã chủ động nhắn tin cho V. Sau khi thỏa thuận thì V đồng ý mua 06 (sáu) hộp pháo nổ với giá 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng)/hộp và hẹn gặp T tại khu vực ngã tư B thuộc thành phố D, tỉnh Bình Dương để giao dịch. Sau đó, V đã liên hệ với một người (không rõ nhân thân lai lịch) để bán 06 (sáu) hộp pháo nổ trên với giá 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng)/hộp.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô, biển số 37N2-015.22 chở theo 02 (hai) thùng giấy chứa pháo nổ đến điểm hẹn thì V nói T đi theo V để giao pháo nổ rồi mới trả tiền. Sau đó, V điều khiển xe mô tô, biển số 59T2-300.29 đi trước còn T chạy theo sau đến khu vực thuộc tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khi V và T đang chờ để giao pháo nổ thì Công an phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong 02 (hai) thùng giấy có 07 (bảy) hộp pháo nổ, loại 49 ống/hộp. Qua làm việc thì V và T khai nhận việc buôn bán pháo nổ để hưởng số tiền chênh lệch nên Công an phường H, thành phố B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V và T.

Tại bản kết luận giám định số: 249/KL-KTHS ngày 15/01/2025, của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 13,1 kg”.

Vật chứng của vụ án:

  • - 07 (bảy) khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tạm giữ.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biến số 37N2-015.22, dung tích xi lanh: 124.8 cm³, số khung: RLHJK1402PZ225170, số máy: JK14E0203787 và 01 điện thoại di động Samsung A15, số Imei: 358184570911834: là phương tiện Phan Thị Huyền T sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tạm giữ.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei: 864182040699150: là phương tiện bị can Trương Huy V sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tạm giữ.
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 ProMax là tài sản cá nhân của Phan Thị Huyền T, không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho Phan Thị Huyền T.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SH150i, biển số 59T2-300.29: Trương Huy V mượn của anh Phan Thanh T1 để sử dụng nhưng anh T1 không biết việc V sử dụng xe mô tô trên vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho anh Phan Thanh T1.
  • - 01 (một) điện thoại di động Oppo A98 là tài sản cá nhân của Trương Huy V, không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho V.

Bản cáo trạng số: 353/CT-VKSBH ngày 12/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo Phan Thị Huyền T và Trương Huy V về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

Bị cáo Phan Thị Huyền T từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo Trương Huy V từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phan Thị Huyền T kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trương Huy V kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa mô tả. Từ đó có đủ cơ sở xác định: Ngày 11/01/2025, tại khu vực thuộc tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Phan Thị Huyền T và Trương Huy V đã có hành vi buôn bán 07 (bảy) hộp pháo nổ, loại 49 ống/hộp, trọng lượng 13,1 kg thì bị bắt quả tang để điều tra xử lý.

Tại bản kết luận giám định số: 249/KL-KTHS ngày 15/01/2025, của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 13,1 kg”.

[3] Hành vi của các bị cáo Phan Thị Huyền T và Trương Huy V đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý của Nhà nước về buôn bán những mặt hàng bị cấm, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế. Bị cáo nhận thức được tác hại do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì lợi ích của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo phạm tội lần đầu áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Phan Thị Huyền T khi phạm tội là phụ nữ có thai thuộc quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quyết định:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Số pháo nổ còn lại sau giám định, được niêm phong và đóng dấu mộc tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (07 hộp).
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
    • + 01 điện thoại Samsung A15, số IMEI: 358184570911834 của bị cáo Phan Thị Huyền T sử dụng vào việc phạm tội.
    • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI: 864182040699150 của bị cáo Trương Huy V sử dụng vào việc phạm tội.
    • + Xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 37N2-015.22, màu sơn: đen, dung tích xi lanh: 124.8 cm³, số máy: JK14E0203787, số khung: RLHJK1402PZ225170 là phương tiện bị cáo Phan Thị Huyền T sử dụng vào việc phạm tội.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

[8] Đối với người tên “D1”, đã bán pháo nổ cho bị cáo Phan Thị Huyền T và người mua pháo nổ của bị cáo Trương Huy V nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên bố các bị cáo Phan Thị Huyền T, Trương Huy V phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Phan Thị Huyền T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/6/2025.

Giao bị cáo Phan Thị Huyền T cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Trương Huy V 01 (Một) năm 6 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/6/2025.

Giao bị cáo Trương Huy V cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Số pháo nổ còn lại sau giám định, được niêm phong và đóng dấu mộc tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (07 hộp).
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
    • + 01 điện thoại Samsung A15, số IMEI: 358184570911834 của bị cáo Phan Thị Huyền T sử dụng vào việc phạm tội.
    • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI: 864182040699150 của bị cáo Trương Huy V sử dụng vào việc phạm tội.
    • + Xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 37N2-015.22, màu sơn: đen, dung tích xi lanh: 124.8 cm³, số máy: JK14E0203787, số khung: RLHJK1402PZ225170 là phương tiện bị cáo Phan Thị Huyền T sử dụng vào việc phạm tội.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kim Kiên Vương Thị Khánh L

Trần Thị Kim Dung

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Thi hành án hình sự (6);
  • - Bị cáo (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 330/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 330/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Phan Thị Huyền Trang, Trương Huy Vinh phạm tội “Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger