|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 330/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-06-2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Mai Xuân Thường
- 2. Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham phiên tòa.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 441/2025/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 359/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cao Thị T, sinh năm 1998; Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ cư trú hiện nay: 1103 B, N, H. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Uỷ quyền giao nhận văn bản tố tụng). Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đăng M, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: K, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An; địa chỉ cư trú hiện nay: Số B, phố P, quận T, thành phố T, Đài Loan. Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (là mẹ chị Cao Thị T). Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961; địa chỉ: Ngõ B, đường T, khối E, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An (là mẹ anh Nguyễn Đăng M). Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong “Đơn khởi kiện” đề ngày 13/5/2025, Bản tự khai (có chứng nhận của Đ tại Hungary) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Đăng M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 19/02/2019. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến tháng 7/2022 anh M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu sang Đài Loan vợ chồng vẫn liên lạc, quan tâm nhau. Đến cuối năm 2022 sau một thời gian anh M sang Đài Loan thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Đến tháng 5/2023 chị cũng đi lao động tại Hungary. Nguyên nhân mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân là do vợ chồng sống xa cách nhau, không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm phai nhạt, trong cuộc sống việc của ai người đó làm, không ai xen vào cuộc sống của ai. Vợ chồng cũng đã sống ly thân kể từ khi anh M đi Đài Loan cho đến nay. Hiện nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đăng M.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Đăng M có 01 con chung là Nguyễn Thị Mai T1, sinh ngày 05/02/2019. Hiện nay cháu T1 đang sống cùng với mẹ đẻ của chị là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1964, trú tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Khi ly hôn chị và anh M thỏa thuận giao cháu T1 cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo bản tự khai (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ) bị đơn anh Nguyễn Đăng M trình bày: Anh và chị Cao Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 19/02/2019. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến tháng 7/2022 anh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu sang Đài Loan vợ chồng vẫn liên lạc, quan tâm nhau. Đến cuối năm 2022 sau một thời gian anh sang lao động tại Đài Loan thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Đến tháng 5/2023 chị T cũng đi lao động tại Hungary. Nguyên nhân mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân là do vợ chồng sống xa cách nhau, không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm phai nhạt, trong cuộc sống việc của ai người đó làm, không ai xen vào cuộc sống của ai. Vợ chồng cũng đã sống ly thân kể từ khi anh đi Đài Loan cho đến nay. Hiện nay chị T đang khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu được ly hôn với anh thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị Cao Thị T có 01 con chung là Nguyễn Thị Mai T1, sinh ngày 05/02/2019. Hiện nay cháu T1 đang sống cùng với mẹ đẻ của chị T là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1964, trú tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Khi ly hôn anh và chị T thỏa thuận giao cháu T1 cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì điều kiện hiện nay anh đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T1. Vì vậy, trong thời gian anh làm việc tại Đài Loan thì anh nhờ mẹ đẻ của anh là bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961, địa chỉ: Ngõ B, đường T, khối E, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T1 cho đến khi anh trở về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Minh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn trình bày đề ngày 02/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị Cao Thị T, anh Nguyễn Đăng M là con rể của bà. Chị T hiện nay lao động và cư trú tại Hungary. Cháu Nguyễn Thị Mai T1, sinh ngày 05/02/2019 là cháu ngoại của bà (con của chị T và anh M). Cháu T1 ở cùng với bà từ tháng 5/2023 cho đến nay. Nay chị T và anh M ly hôn thì bà không yêu cầu chị T và anh M thanh toán cho bà chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 từ trước tới nay. Vì điều kiện công việc không thể sắp xếp được thời gian để tham gia phiên tòa, vì vậy bà đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt.
Tại đơn trình bày đề ngày 03/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Đăng M, chị Cao Thị T là con dâu của bà. Anh Minh hiện nay lao động và cư trú tại Đài Loan, còn chị T cư trú và lao động tại Hungary. Cháu Nguyễn Thị Mai T1, sinh ngày 05/02/2019 là cháu nội của bà (con của anh M và chị T). Nay anh M và chị T ly hôn mà Tòa án giao cháu T1 cho anh M chăm sóc nuôi dưỡng, vì điều kiện hiện nay anh M đang ở Đài Loan không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu T1, anh M có nhờ bà quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T1 thì bà đồng ý. Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 thì bà không yêu cầu anh M và chị T phải thanh toán cho bà. Khi nào anh M trở về Việt Nam thì bà sẽ giao lại cháu T1 cho anh M. Vì điều kiện công việc không thể sắp được thời gian để tham gia phiên tòa, vì vậy bà đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Cao Thị T có đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 5 năm 2025 (Đơn khởi kiện có chứng nhận của Đ tại Hungary) gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn với anh Nguyễn Đăng M. Theo Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị Cao Thị T và anh Nguyễn Đăng M đều có nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh là tại tỉnh Nghệ An. Hiện nay chị T đang sinh sống và làm việc tại địa chỉ A B, N, H còn anh M đang sinh sống và làm việc tại số B, phố P, quận T, thành phố T, Đài Loan nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải do hiện nay đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị T:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Cao Thị T và anh Nguyễn Đăng M được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận và có với nhau một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi anh M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và chị T cũng đi xuất khẩu lao động tại Hungary thì do khoảng cách địa lý xa xôi thì tình trạng vợ chồng càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, tình cảm với nhau. Tại các bản tự khai, chị T và anh M đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên thống nhất ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng, thời gian vợ chồng sống với nhau là chưa dài mà đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp để đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị T yêu cầu giải quyết ly hôn và anh M đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị T và anh Nguyễn Đăng M.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai chị T và anh M đều trình bày vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Mai T1, sinh ngày 05/02/2019. Ly hôn chị T và anh M đều thống nhất thỏa thuận giao cháu T1 cho anh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét thấy: Theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc nuôi con chung chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, chị T và anh M hiện nay đều đang ở nước ngoài và có địa chỉ cụ thể, do đó cần giao cháu T1 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng như sự thoả thuận của các đương sự là phù hợp. Do hiện nay anh M đang làm việc tại Đài Loan nên anh M nhờ mẹ đẻ của mình là bà Nguyễn Thị X quản lý và chăm sóc cháu T1 cho đến khi anh M về Việt Nam. Bà X cũng đồng ý tự nguyện nhận trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 cho đến khi anh M trở về nước. Đồng thời, về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Cao Thị T và anh Nguyễn Đăng M, bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị X đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con cũng như điều kiện hoàn cảnh của các bên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Tòa ghi nhận sự tự nguyện này của các đương sự.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai chị T và anh M đều không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T2 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì anh chị Cao Thị T và anh Nguyễn Đăng M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chị T và anh M thỏa thuận chị T là người chịu án phí nên Tòa án ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 104, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị T và anh Nguyễn Đăng M.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Mai T1, sinh ngày 05/02/2019 cho anh Nguyễn Đăng M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị X (mẹ đẻ anh M) là bà X có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Mai T1 cho đến khi anh Nguyễn Đăng M về Việt Nam.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Cao Thị T, anh Nguyễn Đăng M, bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị X đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Cao Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Cao Thị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Cao Thị T và anh Nguyễn Đăng M không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Cao Thị T tự nguyện chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0007900 ngày 30/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị Cao Thị T số tiền tạm ứng án phí còn lại là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Cao Thị T, anh Nguyễn Đăng M có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 330/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 330/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị T và anh M
