|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 330/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/5/2025 V/v: Xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Phương
2. Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 106/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị O, sinh năm 1982;
- Bị đơn: Anh Phạm Trung K, sinh năm 1977;
Cùng ĐKHKTT: Số D Làng T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội và nơi ở: Số A, ngõ A Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. (Chị O, anh K có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai tại Tòa án, chị Lê Thị O trình bày:
Về tình cảm: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K đăng ký kết hôn ngày 26/01/2007 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K đã sống ly thân nhiều năm. Chị Lê Thị O xác định không còn tình cảm với anh K, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị O được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K có 02 con chung là Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 và Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014. Chị Lê Thị O có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 và Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014. Chị Lê Thị O không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi con. Trong trường hợp anh Phạm Trung K cũng có nguyện vọng nuôi con thì chị Lê Thị O là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014; Anh Phạm Trung K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nhà ở: Chị Lê Thị O không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về khoản nợ: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K không vay nợ ai và không cùng cho ai vay nợ, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Phạm Trung K trình bày:
Về tình cảm: Anh Phạm Trung K và chị Lê Thị O đăng ký kết hôn ngày 26/01/2007 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Anh K và chị O đã ly thân từ 2023 đến nay. Nay chị O muốn ly hôn, anh K đồng ý.
Về con chung: Anh Phạm Trung K và chị Lê Thị O có 02 con chung là Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 và Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014. Anh Phạm Trung K có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 và Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014. Anh Phạm Trung K không yêu cầu chị O cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung, nhà ở: Anh Phạm Trung K muốn chị Lê Thị O phải thỏa thuận cụ thể, rõ ràng. Anh K không đề nghị Tòa án chia tài sản chung vợ chồng.
Về vay nợ: Anh Phạm Trung K và chị Lê Thị O không vay nợ ai và không cùng cho ai vay nợ, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị Lê Thị O đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Trung K. Chị O có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Phạm Trí D. Chị O không yêu cầu anh K đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Anh Phạm Trung K đồng ý ly hôn và có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Lê Tường V và Phạm Trí D,. Anh K không yêu cầu chị O đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh K không đề nghị Tòa án chia tài sản chung vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng theo Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Đối với đương sự, nguyên đơn đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 4, khoản 1 Điều 28, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1 Điều 71, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 để xem xét: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị O. Chị Lê Thị O được ly hôn với anh Phạm Trung K; Về con chung: Giao con Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014 cho chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K không đề nghị Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh Phạm Trung K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số D Làng T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội và nơi ở: Số A, ngõ A Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 01 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống chị O khẳng định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn của chị O và anh K đã rất trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ. Chị O, anh K cùng xác nhận anh chị đã sống ly thân nhiều năm.
Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng chung thủy thương yêu nhau, tôn trọng danh dự và uy tín cho nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Rõ ràng cuộc hôn nhân của chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K không đạt được mục đích đó. Chị O và anh K đã sống ly thân trong khoảng thời gian dài. Tại phiên tòa, anh K cũng đồng ý ly hôn với chị O. Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị O.
Về con chung: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K có 02 con chung là Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 và Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014. Chị Lê Thị O có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Trí D; Anh Phạm Trung K có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Phạm Lê Tường V và Phạm Trí D.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế chị Lê Thị O, anh Phạm Trung K vẫn đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung. Con Phạm Trí D có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng chị O, con Phạm Lê Tường V có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng anh K. Nguyện vọng của chị O là có căn cứ được chấp nhận. Giao con Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014 cho chị Lê Thị O là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 cho anh Phạm Trung K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Chị Lê Thị O và anh anh Phạm Trung K có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ và nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 70; khoản 4 Điều 147; Điều 203; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 1 Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị O. Chị Lê Thị O được ly hôn với anh Phạm Trung K.
- Về con chung: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K có 02 con chung là Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 và Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014. Giao con Phạm Trí D, sinh ngày 14/4/2014 cho chị Lê Thị O là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con Phạm Lê Tường V, sinh ngày 01/11/2007 cho anh Phạm Trung K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản, nhà ở chung và nợ chung: Chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị O phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0031169 ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Lê Thị O và anh Phạm Trung K có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 330/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn
- Số bản án: 330/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Chị Lê Thị O, sinh năm 1982; - Bị đơn: Anh Phạm Trung K, sinh năm 1977; Cùng ĐKHKTT: Số D Làng T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội và nơi ở: Số A, ngõ A Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
