|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 330/2024/HSST Ngày: 11/12/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quản
- Bà Đinh Thị Quỳnh An
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khôi – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy– Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 470/2024/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1820/2024/HSST-QĐ ngày 20/11/2024 đối với các bị cáo:
1/ Đồng Văn D, Giới tính: Nam; Sinh năm 1993; Tại: Tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: ấp L, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Nơi ở: Không nơi ở ổn định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Đồng Văn C; Mẹ: Nguyễn Thị Ánh L; hoành cảnh gia đình: có Vợ: Phan Thị Tú T (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 2010. Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 22/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 274/2020/HS-ST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 06/8/2021, ngày 08/4/2024 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định ủy thác thi hành án số 213/QĐ đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Đến nay bị can D chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm (bút lục 286-288).
Nhân thân:
- Ngày 12/7/2016, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A, quận G ban hành Quyết định số 200/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội N1 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 05/8/2016 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A, quận G ban hành Quyết định số 223/QĐ-UBND về việc hủy Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở xã hội N1 (bút lục 313-314).
- Ngày 24/02/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B2, quận B ban hành Quyết định số 96/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội B3 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 07/4/2017, Cơ sở xã hội B3 đưa D đến Bệnh viện N2 để cấp cứu, điều trị bệnh nhưng D đã bỏ trốn khỏi bệnh viện ngày 18/7/2017 (bút lục 310-312).
Bị bắt giam ngày 19/3/2024 (BL08; 16; 18)- Có mặt
2/ Nguyễn Sơn T1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1992; Tại: Tỉnh Bình Dương; Nơi đăng ký thường trú: C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nơi ở: Không nơi ở ổn định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Cha: Nguyễn Hồng S; Mẹ: Huỳnh Thanh H; hoành cảnh gia đình: có tên V: Lý Thị Bé B, có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018. Tiền sự: Không
Tiền án: Ngày 24/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 284/2020/HS-ST. Ngày 17/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 311/2020/HS-ST. Ngày 18/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 03/2020/QĐ quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án, do đó, T1 phải chấp hành hình phạt chung của bản án 284/2020/HS-ST ngày 24/7/2020 và bản án số 311/2020/HS-ST ngày 17/8/2020 là 03 năm 3 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023, đóng án phí hình sự sơ thẩm của hai bản án ngày 16/3/2021 (bút lục 301-302).
Nhân thân:
- Ngày 19/10/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn vì có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 23/01/2018 chấp hành xong.
- Ngày 15/10/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng, theo Quyết định số 80/QĐ, ngày 19/11/2019 chấp hành xong (bút lục 305).
Bị bắt giam ngày 19/3/2024 (Bl 10; 12-15) - Có mặt
3/ Nguyễn Văn T2; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994; Tại: Tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở: Không nơi ở ổn định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12;Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Văn D1; Mẹ: Cao Thị N, hoàn cảnh gia đình: Vợ/ con: Chưa có. Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 03/11/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 14 tháng, theo Quyết định số 133/QĐ, ngày 01/10/2023 chấp hành xong (bút lục 308-309).
Nhân thân: Ngày 11/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 14 tháng, theo Quyết định số 148/QĐ, ngày 31/8/2020 chấp hành xong (bút lục 391).
Bị bắt giam ngày 19/3/2024 (Bl 06; 20; 22) - Có mặt
*Người bị hại: Anh Lâm Ngọc T3, sinh năm 1996.
HKTT: 185/115, Phó C, phường F, Quận A, TP .
Trú tại: Ô 30DC 57, đường N, khu phố D, phường A, Tp ., tỉnh Bình Dương – Vắng mặt
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Đặng Minh B1, sinh năm 1999
HKTT: Thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai
Cư trú: 526/1, K, phường L, TP ., TP . - Vắng mặt
2/ Đỗ Thị Tường D2, sinh năm 1981
HKTT: 183/28, Quốc lộ A, phường B, quận B, Tp . - Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi góp tiền cùng nhau mua ma túy sử dụng tại khách sạn T8, địa chỉ số D, đường V, khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 04 giờ ngày 16/3/2024, do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Sơn T1 rủ Đồng Văn D và Nguyễn Văn T2 cùng nhau đi cướp giật tài sản của người đi đường để bán lấy tiền tiêu xài, T1 sẽ là người trực tiếp cướp giật tài sản, còn T2 và D đi chung 01 xe mô tô để cản địa. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 61C1-841.48 chở D ngồi phía sau, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 61C1–218.28 đi một mình. Trên đường đi, T1 điều khiển xe mô tô chạy trước, còn T2 điều khiển xe mô tô chở D chạy phía sau đi trên các tuyến đường T rồi vào đường H hướng về cầu P. Khi đang lưu thông trên đường H thì D và T2 nhìn thấy anh Lâm Ngọc T3, đang dừng xe mô tô phía trước cùng chiều dưới lòng đường và ngồi trên xe mô tô sử dụng điện thoại di động tại trước địa chỉ số H đường H, khu phố B, phường T, Quận A nên D nói cho T2 biết. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô chạy qua chỗ ông T3 để quan sát và vòng lại cách ông T3 khoảng hơn 10 mét rồi D xuống xe mô tô đi bộ từ phía sau bên trái của ông T3, dùng tay phải cướp giật điện thoại di động mà ông T3 đang cầm trên tay rồi chạy bộ nhảy lên xe của T2 điều khiển chở D tăng ga tẩu thoát. Riêng T1 thấy D và T2 cướp giật được điện thoại nên đã cùng nhau tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, D tắt nguồn điện thoại vừa cướp giật được và đưa cho T2 xem điện thoại là nhãn hiệu gì, đi được một đoạn thì T2 và T1 dừng xe lại để đổi xe mô tô với nhau nhằm tránh bị phát hiện, khi đổi xe mô tô thì D đưa điện thoại di động cướp giật được cho T1 cất giữ rồi cùng về khách sạn T8. Tại khách sạn T8, D tháo sim và pin của điện thoại ra nhưng không lắp lại. Sau đó, D dùng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo X60 Pro của D để chụp ảnh điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max vừa cướp giật được gửi cho Đặng Minh B1 hỏi giá sửa điện thoại di động, B1 trả lời là 3.500.000 đồng và yêu cầu D đem điện thoại di động đến cửa hàng điện thoại di động “ATM 359", địa chỉ số C đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho B1 xem thì D đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô Honda Vision, biển số 59N3–319.29 một mình đem theo điện thoại cướp giật được đến cửa hàng điện thoại di động “ATM 359”. Tại đây D đưa điện thoại cho B1 xem, D nói với B1 là điện thoại Dư mua lại của người khác. Một lúc sau, chủ cửa hàng là Đỗ Thị Tường D2 đi công chuyện về, thì D và D2 thỏa thuận D2 ứng trước cho D số tiền 3.000.000 đồng, D để lại điện thoại ở tiệm để sửa thì D2 đồng ý, nhận tiền xong thì D đi về. Trên đường về, D dùng số tiền 600.000 đồng để mua đồ cá nhân (trong đó có 300.000 đồng là tiền của D) và D có ghé tiệm điện thoại đi động (không nhớ địa chỉ) chuyển vào tài khoản ngân hàng của Thông số tiền 1.800.00 đồng, trong đó có số tiền của T2 là 900.000 đồng, chuyển tiền xong thì D về lại khách sạn T8. Số tiền này T1, T2, D đã tiêu xài hết. Ngày 17/3/2024, khi các đối tượng đang ở khách sạn T8 thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt khẩn cấp.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập (bút lục 121-136,341-358).
Bản cáo trạng số 341/CT-VKS, ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 khai nhận hành vi D đi bộ tới gần rồi giật điện thoại di động của anh Lâm Ngọc T3, sau đó D lên lên xe mô tô của đồng bọn tẩu thoát. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt:
Bị cáo Đồng Văn D, Nguyễn Sơn T1 với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Bị cáo Nguyễn Văn T2 với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Khoảng 05 giờ 05 phút ngày 16/3/2024, tại trước địa chỉ số H H, Khu phố B, phường T, Quận A. Đồng Văn D đi bộ tới gần anh Lâm Ngọc T3 giật lấy điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max rồi chạy đến và leo lên xe mô tô do Nguyễn Văn T2 điều khiển nhanh chóng tẩu thoát. Nguyễn Sơn T1 thấy đồng bọn giật được điện thoại nên cùng nhau tẩu thoát.
Hành vi nêu trên của Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 đã phạm vào tội Cướp giật tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTS ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, số Imeil: 350141788203782, số Imei2: 350141788000436, trị giá 10.850.000 đồng (Bút lục 225-229).
Các bị cáo đã thống nhất ý chí cùng tìm kiếm người có tài sản để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi mang tính đồng phạm giản đơn, không có người chỉ huy, không lập kế hoạch cụ thể cũng như không có sự phân công vai trò của từng bị cáo nên không phạm tội có tổ chức.
Đồng Văn D đi bộ tới giằng, giật điện thoại di động, sau đó leo lên xe mô tô cùng với Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 tẩu thoát, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.850.000 đồng. Hành vi nêu trên của Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 đã phạm tội theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Ngày 22/7/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt Đồng Văn D 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 06/8/2021. Bị cáo chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm.
Ngày 24/7/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt Nguyễn Sơn T1 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/8/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt Nguyễn Sơn T1 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 18/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An ban hành Quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án. Buộc bị cáo T1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm 3 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo chưa được xóa án tích, lại phạm tội mới nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương. Các bị cáo có nhân thân xấu:
Ngày 12/7/2016, Đồng Văn D bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A, quận G đưa người nghiện ma túy. Ngày 24/02/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B2, quận B đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội B3 nhưng D đã bỏ trốn khỏi bệnh viện ngày 18/7/2017.
Ngày 19/10/2017, Nguyễn Sơn T1 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn vì có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/10/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng.
Ngày 03/11/2022, Nguyễn Văn T2 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 14 tháng. Ngày 11/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 14 tháng.
Các bị cáo đã được Nhà nước đưa đi giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử các bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại....... Để cho các được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Lâm Ngọc T3 đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max (bút lục 240, 246). Không có yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm (bút lục 145-147) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng thu giữ:
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, qua xác minh xe mô tô do ông Nguyễn Tấn Đ đứng tên đăng ký. Ông Đ khai đã mua xe trên vào năm 2018 để làm phương tiện đi lại. Ngày 15/3/2024, Nguyễn Hữu T4 tự ý lấy xe mô tô trên để đi chơi. Sau đó, T4 cho D mượn xe đi ăn tối, D sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi cướp giật tài sản thì T4 và Đ không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho ông Nguyễn Tấn Đ (bút lục 240,384).
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 61C1–218.28, số máy: 55P1 -069230; số khung: RLCE55P10CY069225. Qua xác minh xe mô tô do ông Võ Thanh T5 đứng tên đăng ký, hiện ông Võ Thanh T5 đã đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu. Nguyễn Sơn T1 khai vào ngày 15/3/2024, T1 mượn xe mô tô này của ông Lê Phước T6 để làm phương tiện đi lại, sau đó, T1 sử dụng xe đi cướp giật tài sản. Qua làm việc, T6 khai không biết việc Thông sử dụng xe mô tô trên để đi cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nêu trên, nhưng đến nay chưa có kết quả (bút lục 232).
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 59N3–319.29, số máy: không xác định; số khung: RLHJF583XKY247710, đã qua sử dụng. Qua xác minh biển số xe mô tô do ông Nguyễn Văn T7 đứng tên đăng ký. Qua làm việc, ông T7 khai năm 2020 ông mua chiếc xe mô tô biển số 59N3-319.29 để sử dụng, sau đó đã bán lại cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) nhưng không làm thủ tục sang tên. Đồng Văn D khai xe mô tô nêu trên do người tên H1 (chưa xác định, là bạn quen biết ngoài xã hội) cầm cố tại tiệm cầm đồ ở Thành phố D, tỉnh Bình Dương (không nhớ địa chỉ) nhờ D chuộc lại. Sau đó, D sử dụng làm phương tiện gây án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nêu trên, nhưng đến nay chưa có kết quả (bút lục 232).
Tại Bản kết luận giám định số 2453/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 59N3-319.29 có số khung nguyên thủy: RLHJF583XKY247710 (không bị đục lại số), số máy: Bị mài mất số, không xác định được số nguyên thủy (bút lục 379).
Tại Bản kết luận giám định số 5065/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Biển số xe 59N3-319.29 là biển số thật. (bút lục 380).
Vì vậy cần giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với 02 xe mô tô nêu trên. Nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
- Đối với các điện thoại thu giữ, bao gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, số Imei 1: 869929055069116, số Imei 2: 869929055069108, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30, sô Imei 1: 354874107283830, số Imei 2: 354875107283837, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo X60 Pro, số Imei 1: 868674058777411, số Imei 2: 868674058777403, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno4, số Imei 1: 867671055830673, số Imei 2: 867671055830665, đã qua sử dụng. Các bị cáo dùng vào liên lạc và chuyển khoản số tiền có được từ cầm điện thoại do cướp giật mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) USB, hiệu Kingston, màu bạc ghi nhận hình ảnh liên quan vụ án tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án.
- Đối với hành vi góp tiền cùng nhau mua ma túy sử dụng tại khách sạn T8, địa chỉ số D, đường V, khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương của Nguyễn Sơn T1 cùng Đồng Văn D và Nguyễn Văn T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương xử lý.
- Đối với bà Đỗ Thị Tường D2 và ông Đặng Minh B1, do không biết điện thoại các bị cáo cầm cố là điện thoại do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không có căn cứ để xử lý hình sự. Tại Cơ quan điều tra, bà Đỗ Thị Tường D2 không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền 3.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do các bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên không buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 phạm tội
“Cướp giật tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
1/ Bị cáo Đồng Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024
2/ Bị cáo Nguyễn Sơn T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
3/ Bị cáo Nguyễn Văn T2 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, số Imei 1: 869929055069116, số Imei 2: 869929055069108, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30, số Imei 1: 354874107283830, số Imei 2: 354875107283837, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo X60 Pro, số Imei 1: 868674058777411, số Imei 2: 868674058777403, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno4, số Imei 1 : 867671055830673, số Imei 2: 867671055830665, đã qua sử dụng.
Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận A: Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với:
- -01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 61C1–218.28, số máy: 55P1 - 069230; số khung: RLCE55P10CY069225 (xe đã qua sử dụng).
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 59N3–319.29, số máy: không xác định; số khung: RLHJF583XKY247710 (xe đã qua sử dụng).
Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 301/QĐ-VKS ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 đồng.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quận 12; (02) - VKSND Tp. HCM; (01) - THADS Quận 12; (01) - Phòng PC53- CA TP. HCM; (01) - Công an Quận 12; (02) - UBND nơi bị cáo cư trú; (03) - Bị cáo; (03) - Người tham gia tố tụng; (03) - Lưu hồ sơ vụ án. T 30/. (05) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |
Bản án số 330/2024/HSST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 330/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đồng Văn D, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Sơn T1 phạm tội “Cướp giật tài sản” Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
