|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 330/2024/HS-ST Ngày: 25 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Như Thuần.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
- Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 278/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 318/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Đức H, sinh ngày: 01/01/1988 tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số A Bà T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở hiện nay: F N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đức T và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết). Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ con.
Nhân thân: Năm 2003, Trộm cắp tài sản bị Công an thành phố H xử phạt cảnh cáo tại Quyết định số 20373. Năm 2006, phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, bị TAND thành phố Huế xử phạt 36 tháng tù tại Bản án số:175/2006/HSST. Năm 2009, phạm tội Trộm cắp tài sản bị TAND tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 18 tháng tù tại Bản án số: 13/2010/HSST. Năm 2011, phạm tội Trộm cắp tài sản bị TAND thành phố Huế xử phạt 12 tháng tù tại Bản án số: 217/2011/HSST. Năm 2012, phạm tội Trộm cắp tài sản bị TAND thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù tại Bản án số: 262/2012/HSST. Năm 2014, phạm tội Trộm cắp tài sản bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 02 năm 06 tháng tù tại Bản án số: 13/2014/HSST. Năm 2019, phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản bị TAND thành phố Huế xử phạt 02 năm 03 tháng tù tại Bản án số: 125/2019/HSST. Ngày 03/4/2021 bị cáo chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương sinh sống.
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2024 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Lê Văn C1, sinh năm: 2001; Địa chỉ: B T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0h ngày 01/8/2024, Trương Đức H mang theo trên người 01 cây kéo, 01 cuộn dây vải, 01 đôi bao tay, 01 bao tải nhằm mục đích tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 0 giờ 20' cùng ngày, khi đi ngang cửa hàng mua bán điện thoại di động hiệu Airphone địa chỉ H H, phường P, thanh phố H của anh Lê Văn C1, H nảy sinh ý định đột nhập vào cửa hàng trên để trộm cắp tài sản. H đã leo lên mái tôn của cửa hàng, dùng kéo cắt mái tôn, tạo ra mộ lỗ hồng có kích thước 50x50 cm, rồi dùng một sợi dây cáp gần đó để trèo xuống trần thạch cao của quán. H tiếp tục dùng kéo đục trần thạch cao tạo ra lỗ hổng có kích thước khoảng 40x50cm, sau đó đu người theo dây vải để xuống cửa hàng. H lục tìm và lấy trộm tại cửa hàng 01 máy tính xách tay, 07 loa nghe nhạc các loại rồi bỏ tất cả vào bao tải mang theo và đem về phòng trọ của mình tại địa chỉ F N, phường A, thành phố H để cất giữ thì bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ tại nơi ở của H.
Kết luận định giá tài sản số 4212/KL-HĐĐGTS ngày 03/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định:
- 01 loa Harman/Kardon, màu đen có quai tay cầm màu bạc, số Model: B310AS-983, IMEI: 864434036621320, có giá trị 6.000.000 đồng.
- 01 loa Harman/Kardon, màu đen có quai tay cầm màu bạc, số Seri: GG0330-BN0101848, có giá trị 4.500.000 đồng.
- 01 loa Marshall màu đen, Model: Emberton II, số 73400553E251A2B0200978, có giá trị 3.500.000 đồng.
- 01 loa Marshall, màu đen, Model: Emberton, số seri: 73400553E1079D0267638, có giá trị 2.500.000 đồng
- 01 loa xách tay hiệu Marshall, màu đen, M: Stokwell II Bluetooth, số seri: 7340053E21674J0414513, có giá trị 4.000.000 đồng.
- 01 loa nghe nhạc hiệu Marshall, màu đen, Model: Acton III, số seri: 73400553T313A5C1217342, có giá trị 5.800.000 đồng.
- 01 loa Marshall Emberton I, màu trắng, số seri: 73400553E1079D0283331, có giá trị 2.500.000 đồng
- 01 (một) máy tính xách tay Lenovo ThinkPad T14, màu đen, số seri: PF2SRMMR, có giá trị 15.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản H đã chiếm đoạt là 43.800.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ: 01 loa Harman/Kardon, màu đen có quai tay cầm màu bạc, số Model: B310AS-983, IMEI: 864434036621320; 01 loa Marshall, màu đen, Model: Emberton II, số 73400553E251A2B0200978; 01 loa Marshall, màu đen, Model: Emberton, sô seri: 73400553E1079D0267638; 01 loa xách tay hiệu Marshall, màu đen, M: Stokwell II Bluetooth, số seri: 7340053E21674J0414513; 01 loa nghe nhạc hiệu Marshall, màu đen, Model: Acton III, số seri: 73400553T313A5C1217342; 01 loa Marshall Emberton I, màu trắng, số seri: 73400553E1079D0283331; 01 máy tính xách tay Lenovo ThinkPad T14, màu đen, số seri: PF2SRMMR; 01 dây vải dù sọc màu xanh lá cây và màu xám có chiều dài khoảng 6m, chiều rộng 5cm, dây có thắt nút từng đoạn; 02 bao tay vải, màu xám; 01 bao tải màu trắng chiều dài 80cm, chiều rộng 40cm; 01 đôi giày vải có dòng chữ Asiasport màu trắng có sọc xanh, phía trên có dây buộc đã qua sử dụng; 01 áo khoác có mũ bằng vải, màu xám, phía trên cổ áo mặt trong có dòng chữ Sunstop UV master, UPF 50+, đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi trai bằng vải có sọc caro màu đen trắng mũ có chữ L,A chồng lên nhau đã qua sử dụng. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội và vật dụng cá nhân của bị cáo, có giá trị không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các tài sản cho anh Lê Văn C1 là chủ sở hữu: 07 loa nghe nhạc và 01 máy tính xách tay. Đối với số vật chứng còn lại chuyển phục vụ xét xử.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn C1 đã nhận lại đầy đủ số tài sản bị mất. Mái tôn và một phần thạch cao trần nhà bị hư hỏng không đáng kể nên anh C1 không yêu cầu H phải bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số: 303/CT-VKSTPH ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố Trương Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ; về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo luật định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
[1.2] Tại phiên tòa, bị hại anh Lê Văn C1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập lời khai của anh C1, tài sản trộm cắp đã trả cho bị hại; bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 0 giờ 20 phút ngày 01/8/2024, tại cửa hàng mua bán điện thoại di động hiệu Airphone ở H H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Trương Đức H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lê Văn C1 01 máy tính xách tay và 07 loa nghe nhạc. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 43.800.000 đồng.
Hành vi trên của bị cáo Trương Đức H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo với tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng với bản tính lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản nhưng vẫn không lấy làm bài học để rèn luyện, sửa chữa mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo lần này thể hiện sự quyết liệt, liều lĩnh, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các tài sản cho anh Lê Văn C1 là chủ sở hữu: 07 loa nghe nhạc và 01 máy tính xách tay là đúng pháp luật. Tại phiên tòa, anh C1 không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với các vật chứng gồm: 01 dây vải dù sọc màu xanh lá cây và màu xám có chiều dài khoảng 6m, chiều rộng 5cm, dây có thắt nút từng đoạn; 02 bao tay vải, màu xám; 01 bao tải màu trắng chiều dài 80cm, chiều rộng 40cm. 01 đôi giày vải có dòng chữ Asiasport màu trắng có sọc xanh, phía trên có dây buộc đã qua sử dụng; 01 áo khoác có mũ bằng vải, màu xám, phía trên cổ áo mặt trong có dòng chữ Sunstop UV master, UPF 50+, đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi trai bằng vải có sọc caro màu đen trắng mũ có chữ L,A chồng lên nhau đã qua sử dụng. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội và vật dụng cá nhân của bị cáo, có giá trị không lớn nên cân tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn C1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo Trương Đức H phải chịu 200.000đồng theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Đức H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 03/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 dây vải dù sọc màu xanh lá cây và màu xám có chiều dài khoảng 6m, chiều rộng 5cm, dây có thắt nút từng đoạn.
- 02 bao tay vải, màu xám.
- 01 bao tải màu trắng chiều dài 80cm, chiều rộng 40cm.
- 01 đôi giày vải có dòng chữ Asiasport màu trắng có sọc xanh, phía trên có dây buộc đã qua sử dụng;
- 01 áo khoác có mũ bằng vải, màu xám, phía trên cổ áo mặt trong có dòng chữ Sunstop UV master, UPF 50+, đã qua sử dụng;
- 01 mũ lưỡi trai bằng vải có sọc caro màu đen trắng, trên mũ có chữ L,A chồng lên nhau đã qua sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trương Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Như Thuần |
Bản án số 330/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 330/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCTS
