Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 330/2024/HNGĐ-ST

Ngày 01-8-2024

V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Duyên Văn Hiền
  2. Ông Nguyễn Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Văn Thị L, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1981, địa chỉ cư trú: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn: Chị Văn Thị L trình bày:

Về hôn nhân:

Chị và anh T xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nay, nguyên đơn xác định mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung:

Vợ chồng có 02 người con chung là Lê Chí T1, sinh ngày 13/3/2011 (giới tính: Nam) và Lê Kiêu O, sinh ngày 02/8/2015 (giới tính: Nữ).

Hiện các cháu do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn nguyên đơn yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 02 cháu cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng:

Không có yêu cầu anh T phải cấp dưỡng.

Về tài sản, nợ:

Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật và bảo lưu ý kiến như trình bày tại đơn khởi kiện.

- Đối với bị đơn: Anh Lê Văn T:

Khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn anh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cần xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật:

Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, do bị đơn là anh T có nơi cư trú tại ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

- Về hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 13/7/2011 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau cấp cho chị L và anh T, thì giữa chị L và anh T có đăng ký kết hôn, cho nên về mặt hôn nhân giữa chị L và anh T là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo chị L xác định: Quá trình chung sống, giữa chị và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, không còn hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị L đã nộp đơn ly hôn với anh T.

Còn đối với anh T vắng mặt, không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản hồi gì trước yêu cầu ly hôn của chị L.

Cho thấy, bị đơn đã không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình với nguyên đơn và nay chị L kiên quyết ly hôn với anh T.

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ chung sống với nhau.

Mặt khác, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình:

“Điều 4. Ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng;”.

Xét, hôn nhân giữa chị L và anh T đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung:

Theo chị L xác định, giữa chị và anh T có 02 người con chung là Lê Chí T1, sinh ngày 13/3/2011 (giới tính: Nam) và Lê Kiều O, sinh ngày 02/8/2015 (giới tính: Nữ).

Đồng thời, chị L có cung cấp Giấy khai sinh số 158 ngày 12/7/2011 và Giấy khai sinh số 69 ngày 21/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau cấp thể hiện: cháu Lê Chí T1, sinh ngày 13/3/2011 (giới tính: Nam) và cháu Lê Kiều O, sinh ngày 02/8/2015 (giới tính: Nữ), cho thấy lời trình bày của chị L là có căn cứ.

Ngoài ra, chị L xác định hiện 02 cháu do chị trực tiếp nuôi dưỡng, nhưng hiện nay 02 cháu đang sinh sống ở địa phương khác, nên không thể dẫn 02 cháu đến Toà án ghi nhận ý kiến, dẫn đến Toà án chưa ghi nhận được ý kiến của 02 cháu theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Tuy nhiên, chị L xác định khi ly hôn chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 02 cháu đến tuổi trưởng thành.

Đối với anh T vắng mặt, không tham gia tố tụng, nên không có cơ sở để xem xét giải quyết.

Do đó, Hội đồng xét xử xét vì lợi ích của con chung, đảm bảo ổn định trong cuộc sống, cần tiếp tục giao 02 cháu cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, phù hợp với khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

- Về cấp dưỡng, tài sản, nợ:

Chị L không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

[3] Về án phí:

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, nên chị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các điều 271, 273, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các điều 19, 51, 56, 55, 57, 81, 82, 83, 84, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Văn Thị L.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Văn Thị L được ly hôn với anh Lê Văn T.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Chí T1, sinh ngày 13/3/2011 (giới tính: Nam) và Lê Kiều O, sinh ngày 02/8/2015 (giới tính: Nữ) cho chị Văn Thị L được quyền trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác.
  2. Về án phí: Chị Văn Thị L phải chịu án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng, đối trừ với số tiền 300.000 đồng mà chị L đã dự nộp tại Biên lai thu 4973 ngày 16/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (02b);
  • - VKSND H. Trần Văn Thời (01b);
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời (01b);
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (01b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01b);
  • - Lưu án văn (01b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thành Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 330/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 330/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger