Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 330/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/9/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hễ

Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/02/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4728/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Ngọc T, sinh năm 1991(Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: 5 L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Vũ Tuấn T1, sinh năm 1992(Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: DE, A, #20, SanDiego, CA 92105 C, Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và B tự khai, nguyên đơn bà Vũ Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Vũ Tuấn T1 đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05, ngày 08/01/2020 do Ủy ban nhân dân Quận B1 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, rồi ông Vũ Tuấn T1 trở về Hoa Kỳ sinh sống, thời gian đầu hai người có liên lạc với nhau qua điện thoại, nhưng sau khoảng thời gian, hai người dần dần ít liên lạc. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, cả hai không còn tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Tuấn T1.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bà xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.

Tại Bản tự khai, bị đơn ông Vũ Tuấn T1 trình bày: Ông đồng ý ly hôn với bà Vũ Thị Ngọc T vì hai bên sống xa cách, tình cảm không còn.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Vũ Thị Ngọc T và ông Vũ Tuấn T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông T1.

Về nội dung:

  1. [1] Về quan hệ hôn nhân:

    Bà Vũ Thị Ngọc T và ông Vũ Tuấn T1 có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05, ngày 08/01/2020 do Ủy ban nhân dân Quận B1 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp nên là hôn nhân hợp pháp.

    Về yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Ngọc T, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, rồi ông Vũ Tuấn T1 trở về Hoa Kỳ sinh sống, thời gian đầu hai người có liên lạc với nhau qua điện thoại, nhưng do xa cách về địa lý, cộng thêm tuổi tác đã cao nên hai người dần dần ít liên lạc. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, cả hai không còn tiếng nói chung và cũng không còn liên lạc với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Tuấn T1 là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

  2. [2] Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. [3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
  4. [4] Về án phí: Bà Vũ Thị Ngọc T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 9, 51, 56, 121 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Ngọc T.

  1. Về hôn nhân:

    Bà Vũ Thị Ngọc T được ly hôn với ông Vũ Tuấn T1.

  2. Về con chung; tài sản chung và nợ chung: Không có gì để giải quyết.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị Ngọc T chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0031921 ngày 16/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.-

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM;
  • - UBND thành phố Thủ Đức, TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Tùng Lâm

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 330/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 330/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà và ông Vũ Tuấn T1 đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05, ngày 08/01/2020 do Ủy ban nhân dân Quận B1 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, rồi ông Vũ Tuấn T1 trở về Hoa Kỳ sinh sống, thời gian đầu hai người có liên lạc với nhau qua điện thoại, nhưng sau khoảng thời gian, hai người dần dần ít liên lạc. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, cả hai không còn tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Tuấn T1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger