TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 330/2024/DS-PT Ngày: 05/8/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
- - Các thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
- Bà Hà Thị Phương Thanh
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXPT-DS ngày 08 tháng 6 năm 2024.
Do Bản án số 24/2024/DSST ngày 05/3/2024 của TAND huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử sơ thẩm có kháng cáo, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
- Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, TP ..
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Phương K, sinh năm 1992 – Chuyên viên tố tụng (có mặt).
- Địa chỉ: Lầu F, số A T, phường A, quận N, TP ..
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc K1, sinh năm 1995
- Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1995
- Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, TP .
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1980 (yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, TP ..
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, TP ..
- Người kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:
Ngày 19/7/2021 ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D có ký Hợp đồng vay số 375/2021/HĐTD/PVB-PGDTLI với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh T1 – Phòng G và cùng khế ước nhận nợ ngày 19/7/2021 để vay số tiền 1.000.000.000 đồng; thời hạn vay 09 tháng; lãi suất 10,8%/năm (cố định trong 03 tháng đầu, sau 03 tháng áp dụng lãi suất thả nổi). Thời hạn thanh toán nợ gốc vào cuối kỳ, lãi suất thanh toán vào ngày 15 hàng tháng. Mục đích bổ sung vốn kinh doanh lúa, gạo. Tổng dư nợ đến ngày 05/3/2024 là 1.325.627.786 đồng (nợ gốc 999.943.491 đồng, lãi trong hạn 1.260.274 đồng, lãi quá hạn 324.187.158 đồng, phạt do chậm thanh toán lãi trong hạn 236.863 đồng).
Ngày 09/9/2021 ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D có ký Hợp đồng vay số 401/2021/HĐTD/PVB-PGDTLI với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh T1 – Phòng G và cùng khế ước nhận nợ ngày 09/9/2021 để vay số tiền 290.000.000 đồng; thời hạn vay 84 tháng; lãi suất 12%/năm (cố định trong 12 tháng đầu, sau 12 tháng sẽ áp dụng lãi suất thả nổi). Thời hạn thanh toán nợ gốc 84 kỳ, lãi suất thanh toán vào ngày 05 hàng tháng. Mục đích sửa chữa nhà ở. Tổng dư nợ đến ngày 05/3/2024 là 345.152.092 đồng (nợ gốc 265.849.000 đồng, lãi trong hạn 59.420.323 đồng, lãi quá hạn 14.335.024 đồng, phạt do chậm trả lãi trong hạn 5.547.745 đồng).
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông K1 và bà D ký hợp đồng thế chấp số 375/2021/HĐBĐ/PVB-PGDTLI ngày 19/7/2021 để thế chấp:
- - QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 517690, số vào sổ cấp giấy CH 03924 diện tích 176m², thửa số 2023, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Do UBND huyện T cấp cho ông Lê Văn Q vào ngày 20/5/2019, điều chỉnh chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K1 ngày 15/7/2021.
- - QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 517691, số vào sổ cấp giấy CS 03925 diện tích 406m², thửa số 1584, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Do UBND huyện T cấp cho ông Lê Văn Q vào ngày 29/5/2019, điều chỉnh chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K1 ngày 15/7/2021.
Ngày 18/10/2021 ông Nguyễn Ngọc K1 ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ, hạn mức sử dụng 30.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 05/3/2024 là 57.408.578 đồng.
Ngày 16/11/2021 bà Nguyễn Thị Thùy D ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ, hạn mức sử dụng 30.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 05/3/2024 là 55.654.053 đồng.
Đến thời điểm khởi kiện thì khoản nợ còn lại của ông K1 và bà D đã quá hạn. Nay Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông K1 và bà D trả số tiền của 04 khoản vay tổng cộng là 1.783.842.509 đồng (tạm tính đến ngày 05/3/2024). Đồng thời, ông K1 và bà D còn phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh theo hợp đồng vay đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ. Trường hợp ông K1 và bà D không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
* Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn trình bày: Ngày 15/7/2021 ông Lê Văn Q chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K1 02 thửa đất 2023 và 1584 tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp T, xã trường X, huyện T, thành phố Cần Thơ. Sau đó, ông K1 thế chấp các thửa đất nêu trên để vay tiền. Thực tế, ông K1 vay tiền cho ông Q. Ngày 14/6/2022 ông K1 có lập Hợp đồng ủy quyền để ông Q thay mặt ông K1 thực hiện các quyền như: quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê và được ủy quyền lại toàn bộ các thửa đất nêu trên. Hiện nay tài sản gia đình ông Q đang quản lý và sử dụng nhưng không thanh toán tiền nợ vay cho Ngân hàng. Đề nghị buộc ông Q trả nợ vay tại Ngân hàng thay ông K1 và bà D. Trường hợp ông Q không trả nợ cho Ngân hàng thì đồng ý với yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đối với các khoản vay tại hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng của ông K1 và bà D thì ông K1 và bà D thống nhất với lời trình bày của Ngân hàng về số tiền gốc còn nợ. Riêng về lãi suất thì chỉ đồng ý việc tính lãi do chậm thanh toán, không đồng ý trả lãi quá hạn vì 02 khoản lãi đó là một. Cụ thể, đối với khoản vay 1.000.000.000 đồng tại Hợp đồng vay số 375/2021/HĐTD/PVB-PGDTLI thì tổng số lãi cho đến thời điểm này bà chỉ đồng ý là 185.000.000 đồng; đối với khoản vay 290.000.000 đồng tại Hợp đồng vay số 401/2021/HĐTD/PVB-PGDTLI thì tổng số lãi cho đến thời điểm này bà chỉ đồng ý là 47.880.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm;
Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu.
Tại Bản án sơ thẩm số 24/2024/DSST ngày 05/3/2024 của TAND huyện Thới Lai tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ. Buộc ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 1.783.842.509 đồng, tính đến ngày 05/3/2024, bao gồm:
- - Nợ gốc còn lại của 02 hợp đồng tín dụng: 1.265.792.491 đồng (999.943.491 đồng + 265.849.000 đồng).
- - Lãi trong hạn của 02 hợp đồng tín dụng: 60.680.597 đồng (1.260.274 đồng + 59.420.323 đồng).
- - Lãi quá hạn: 338.522.182 đồng (324.187.158 đồng + 14.335.024 đồng).
- - Lãi phạt do chậm thanh toán: 5.784.608 đồng (236.863 đồng + 5.547.745 đồng).
- - Nợ thẻ tín dụng: 113.062.631 đồng (57.408.578 đồng + 55.654.053 đồng).
- Kể từ ngày 06/3/2024 ông K1 và bà D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông K1 và bà D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp cụ thể:
- - QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 517690, số vào sổ cấp giấy CH 03924 diện tích 176m², thửa số 2023, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Do UBND huyện T cấp cho ông Lê Văn Q vào ngày 20/5/2019, điều chỉnh chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K1 ngày 15/7/2021;
- - QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 517691, số vào sổ cấp giấy CS 03925 diện tích 406m², thửa số 1584, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Do UBND huyện T cấp cho ông Lê Văn Q vào ngày 29/5/2019, điều chỉnh chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K1 ngày 15/7/2021.
- (Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 375/2021/HĐBĐ/PVB-PGDTLI ngày 19/7/2021)
Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 20/3/2024 bà Nguyễn Thị Kim T có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, yêu cầu xem xét đối với các khoản lãi vì khi vay đã được ưu đãi về lãi suất do tham gia bảo hiểm nhân thọ, ông K1 bị bệnh sốt bại liệt từ nhỏ, kinh doanh gặp khó khăn do dịch Covid 19 không còn khả năng trả lãi. Đề nghị cho cơ cấu lại tiền vay và trả dần vốn và lãi, xem xét miễn giảm án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Bị đơn kháng cáo đề nghị xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo qui định. Bị đơn kháng cáo có đề nghị xét xử vắng mặt theo qui định.
- Về nội dung: Trên cơ sở xem xét Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, có đủ cơ sở để nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Bị đơn kháng cáo không có căn cứ nên đề nghị bác kháng cáo của Bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với Bị đơn ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Thới Lai là phù hợp.
[2] Về tố tụng: Bị đơn kháng cáo nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan triệu tập hợp lệ lần hai vắng mặt. Vì vậy áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt theo qui định.
[3] Về nội dung tranh chấp: Căn cứ hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ của ông K1 và bà D với Ngân hàng TMCP Đ, đủ cơ sở xác định ông K1 và bà D đã vay 04 khoản vay, cụ thể:
- - Ngày 19/7/2021 vay số tiền 1.000.000.000 đồng; thời hạn vay 09 tháng; lãi suất 10,8%/năm. Thời hạn thanh toán nợ gốc vào cuối kỳ, lãi suất thanh toán vào ngày 15 hàng tháng. Mục đích bổ sung vốn kinh doanh lúa, gạo.
- - Ngày 09/9/2021 vay số tiền 290.000.000 đồng; thời hạn vay 84 tháng; lãi suất 12%/năm. Thời hạn thanh toán nợ gốc 84 kỳ, lãi suất thanh toán vào ngày 05 hàng tháng. Mục đích sửa chữa nhà ở.
- - Ngày 18/10/2021 ông Nguyễn Ngọc K1 ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành Thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ, hạn mức sử dụng 30.000.000 đồng.
- - Ngày 16/11/2021 bà Nguyễn Thị Thùy D ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành Thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ, hạn mức sử dụng 30.000.000 đồng.
Căn cứ bản sao kê theo dõi của Ngân hàng thì cho đến thời điểm khởi kiện đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận nhưng ông K1 và D vẫn chưa thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông K1 và bà D, yêu cầu ông K1 và bà D thanh toán tổng số tiền 1.783.842.509 đồng của 04 khoản vay như đã nêu trên, tính đến ngày 05/3/2024.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K1 và bà D cho rằng do Lê Văn Q trước đây vay vốn tại Ngân hàng nhưng không thanh toán đúng hạn, dẫn đến nợ xấu, không tiếp tục vay vốn. Vì vậy, ông Q chuyển nhượng QSD đất cho ông K1, mục đích để ông K1 vay vốn thay cho ông Q. Do ông Q không trả lãi đúng hạn dẫn đến nợ xấu và Ngân hàng khởi kiện, vì vậy yêu cầu Tòa xem xét buộc ông Q trả nợ cho Ngân hàng thay ông K1 và bà D. Trường hợp ông Q không trả nợ thì đồng ý cho Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Xét thấy, sau khi Tòa án thụ lý vụ án, mặc dù đã nhận được thông báo và giấy triệu tập của Tòa án nhưng ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D không đến làm việc theo nội dung triệu tập, cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, cũng không có yêu cầu gì. Khi Tòa án thành lập Hội đồng thẩm định tài sản thế chấp, ông K1 và bà D cũng không có mặt. Hơn nữa, tài sản thế chấp hiện nay không ai quản lý, sử dụng. Sau khi Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bà Nguyễn Thị Kim T (người đại diện theo ủy quyền của ông K1 và bà D) mới nộp đơn yêu cầu đưa ông Q vào tham gia tố tụng vì ông Q có liên quan đến khoản vay và tài sản thế chấp. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Q thừa nhận đã chuyển nhượng tài sản cho ông K1 và D, hiện nay không quản lý và sử dụng tài sản thế chấp. Ông Q thừa nhận có nhận của ông K1 số tiền 650.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông K1 số tiền này, nhưng bà T không đồng ý với ý kiến của ông Q, bà T yêu cầu ông Q trả toàn bộ nợ vay tại Ngân hàng, ông Q không chấp nhận yêu cầu của bà T. Vì ông K1 và bà D không có yêu cầu độc lập đối với ông Q trong vụ án này nên không có căn cứ xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu có tranh chấp thì ông Q, ông K1 và bà D có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Đối với lời trình bày của bà T về việc chỉ chấp nhận duy nhất một khoản lãi đó là lãi phạt do chậm thanh thanh toán chứ không chấp nhận lãi quá hạn hay thêm khoản lãi nào khác, vì theo bà các khoản lãi đó là một. Bà T cho rằng ông K1 làm ăn thua lỗ nên đề nghị Tòa xem xét giảm bớt lãi cho ông K1. Xét thấy, tại Hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận các khoản lãi gồm: lãi trong hạn, lãi phạt do chậm trả lãi trong hạn và lãi quá hạn. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019: “ Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”. Đồng thời, tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ngày 11/01/2019 hướng dẫn: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”. Tại điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.
Đối chiếu các quy định trên thì việc thỏa thuận các khoản lãi nêu trên của Ngân hàng đối với ông K1, bà D là có căn cứ chấp nhận. Việc bà T cho rằng các khoản lãi này là cùng một khoản và yêu cầu chỉ chấp nhận một khoản lãi là không phù hợp. Việc yêu cầu xét giảm lãi của bà T do tại hợp đồng không có thỏa thuận khác và đại diện Ngân hàng không chấp nhận nên cấp sơ thẩm không có cơ sở xem xét.
[4] Về hợp đồng thế chấp tài sản: Căn cứ quy định tại Điều 317 BLDS thì “Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia”. Ông K1 và bà D dùng tài sản là QSD đất do ông Nguyễn Ngọc K1 đứng tên để thế chấp, đó là tài sản được đăng ký và được Nhà nước công nhận QSD nên việc thế chấp là hợp pháp. Theo quy định của pháp luật và cam kết trong hợp đồng tín dụng, tài sản trên được thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ. Yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm cho việc thu hồi nợ của Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 293 và Điều 299 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
[5] Về yêu cầu kháng cáo của Bị đơn: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác để chứng minh cho các yêu cầu kháng cáo về việc tái cơ cấu nợ, xem xét miễn giảm lãi. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Ngân hàng cho rằng trường hợp của ông K1, bà D không đủ điều kiện tái cơ cấu nợ, đối với phần lãi Ngân hàng căn cứ vào Hợp đồng tín dụng nên không thể xét, đến giai đoạn thi hành án nếu có đủ điều kiện sẽ xem xét theo qui định, nên không có cơ sở để xem xét kháng cáo của Bị đơn. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên. Đối với yêu cầu xem xét miễn giảm án phí tại giai đoạn phúc thẩm, do ông K1 là người tàn tật nên được miễn giảm theo qui định (cung cấp sổ). Do vậy cần điều chỉnh về án phí của Bản án sơ thẩm.
Từ những phân tích, nhận định trên và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài tài sản thế chấp: Đại diện Ngân hàng TMCP Đ nộp và chi hết 2.000.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận buộc Bị đơn hoàn lại cho Nguyên đơn 2.000.000 đồng.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông K1 là người tàn tật thuộc trường hợp được miễn theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết nên miễn 50% của số tiền án phí, nên điều chỉnh phần án phí phải chịu của ông K1.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Bị đơn không được chấp nhận, nên phải chịu án phí theo qui định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Bị đơn ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D.
- Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ. Buộc ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 1.783.842.509 đồng (một tỉ bảy trăm tám mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, năm trăm lẽ chín đồng), tính đến ngày 05/3/2024, cụ thể như sau:
- - Nợ gốc còn lại của 02 hợp đồng tín dụng: 1.265.792.491 đồng (999.943.491 đồng + 265.849.000 đồng).
- - Lãi trong hạn của 02 hợp đồng tín dụng: 60.680.597 đồng (1.260.274 đồng + 59.420.323 đồng).
- - Lãi quá hạn: 338.522.182 đồng (324.187.158 đồng + 14.335.024 đồng).
- - Lãi phạt do chậm thanh toán: 5.784.608 đồng (236.863 đồng + 5.547.745 đồng).
- - Nợ của hai Thẻ tín dụng: 113.062.631 đồng (57.408.578 đồng + 55.654.053 đồng).
- Kể từ ngày 06/3/2024 ông K1 và bà D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông K1 và bà D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, ông K1 và bà D không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể:
- - QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 517690, số vào sổ cấp giấy CH 03924 diện tích 176m², thửa số 2023, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Do UBND huyện T cấp cho ông Lê Văn Q vào ngày 20/5/2019, điều chỉnh chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K1 ngày 15/7/2021;
- - QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 517691, số vào sổ cấp giấy CS 03925 diện tích 406m², thửa số 1584, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Do UBND huyện T cấp cho ông Lê Văn Q vào ngày 29/5/2019, điều chỉnh chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K1 ngày 15/7/2021;
- (Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 375/2021/HĐBĐ/PVB-PGDTLI ngày 19/7/2021)
- Về chi phí thẩm định tài sản thế chấp: Buộc ông Nguyễn Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị Thùy D hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thùy D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 32.757.637đồng (ba mươi hai triệu bảy trăm năm bảy nghìn sáu trăm ba mươi bảy đồng). Ngân hàng TMCP Đ không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí 29.305.000đồng theo biên lai thu tiền số 0005408 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai được hoàn lại đủ.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu 300.000đồng, chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp tại Biên lai thu số 0007592 ngày 20/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành án phí(nộp xong).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 05/8/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung |
Bản án số 330/2024/DS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 330/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
