Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 31/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Thanh Oai;

Bà Vi Thị Ngọc Ánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 31/7/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST- HS, ngày 28/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo: Triệu Văn S, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24 tháng 8 năm 1987, tại tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn T (đã chết) và bà Triệu Thị D, sinh năm 1953; có vợ là Lý Thị G, sinh năm 1993 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

  3. Bị cáo: Lâm Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1969, tại tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: Xóm L, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Văn K (đã chết) và bà Phan Thị B, sinh năm 1944. Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không. Tiền án: 01 (một). Ngày 27/3/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng tuyên phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”. Đến ngày 28/01/2022 thì chấp hành án xong trở về địa phương. Hiện tại chưa được xóa án tích.
  4. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

  5. Bị cáo: Bàn Văn N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11 tháng 9 năm 1964, tại tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm P, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/10; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bàn Hý Q (tên gọi khác: Bàn K), đã chết và bà Triệu Thị K1, (tên gọi khác: Bàn Thị K2), sinh năm 1941; có vợ là Triệu Thị L (đã chết); có 01 con, sinh năm 1997. Tiền sự: Không. Tiền án: 01 (một). Ngày 17/7/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án hình sự phúc thẩm số 20/2019/HS-PT. Đến ngày 11/3/2021 thì chấp hành án xong trở về địa phương, hiện tại chưa thi hành xong phần án phí với tổng số tiền 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), do đó chưa được xóa án tích.

Về nhân thân: Ngày 18/3/1995, bị Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 04 (B1) năm tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trong về an ninh quốc giả” (đã được xóa án tích). Ngày 12/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 (mười năm) tháng tùvề tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 10/2024/HS-ST, ngày 12/3/2024.

Hiện nay bị cáo đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số: 12/2024/QĐ-CA ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tại Trại giam N1, Bộ C1.

* Người làm chứng:

  1. Đinh Thiện C, sinh năm 1972; Trú tại: Thôn K, xã T, huyện N tỉnh Bắc Kạn; (có mặt tại phiên tòa)
  2. Đinh Thiện H1, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn B, xã T, huyện N tỉnh Bắc Kạn; (có mặt tại phiên tòa)
  3. Đinh Thiện D1, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn B, xã T, huyện N tỉnh Bắc Kạn. (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 45 phút ngày 07/01/2024, tại khu vực đường T, xã T, huyện N tổ công tác Công an xã T phối hợp với chính quyền địa phương xã T kiểm tra, phát hiện Bàn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ. Qua làm việc, Bàn Văn N tự nguyện giao nộp các đồ vật, tài sản gồm: 02 (hai) túi nilon bên trong có chứa chất màu trắng dạng hạt và bột được niêm phong trong 01 (một) hộp giấy ký hiệu N1; 08 (tám) ống kim loại hình trụ tròn màu xám đều có gắn cuộn dây có một màu đỏ, một dây màu vàng và bên trong có sợi dây kim loại màu đồng được niêm phong trong 01 (một) hộp giấy ký hiệu N2; Số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T1.

Trên cơ sở điều tra, xác minh ban đầu hồi 18 giờ 45 phút, ngày 08/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, phương tiện và khu vực liên quan đối với Lâm Văn H. Qua khám xét không thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ của Bàn Văn N và Lâm Văn H.

Qua xác minh, xác định hành vi của Bàn Văn N có dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” nên Công an xã T phối hợp với Công an huyện N chuyển toàn bộ tài liệu, vật chứng và đối tượng N cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B để điều tra, xác minh theo thẩm quyền.

Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng hồi 09 giờ 00 phút ngày 10/01/2024 xác định: Mở 02 (hai) túi nilon bên trong có chứa chất màu trắng dạng hạt và bột có tổng khối lượng là 1,5kg (một phẩy năm kilôgam). Được niêm phong lại trong hộp cát tông ký hiệu A1 để gửi giám định. 08 (tám) ống kim loại hình trụ tròn màu bạc có kích thước 4,6cm x 0,5cm, một đầu được bịt kín, một đầu có gắn với 02 (hai) dây màu vàng và đỏ, dây có độ dài 1,9m. Được niêm phong lại trong hộp cát tông ký hiệu A2 để gửi giám định. Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T1 xác định là số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) tạm giữ của Bàn Văn N, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong kiểm tra, trưng cầu cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám định tiền thật, tiền giả và bảo quản theo quy định.

Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số tang vật thu giữ của Bàn Văn N xác định được như sau:

Tại bản kết luận giám định số 291/KL-KTHS ngày 29/01/2023 của V Bộ C1 kết luận: “Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1 là thuốc nổ ANFO có thành phần chính gồm Amoni Nitrat (NH4NO3) và dầu khoáng. Thuốc nổ ANFO là vật liệu nổ thường được sử dụng trong khai khoáng, mở đường...Khối lượng thuốc nổ ANFO là 1,5kg (Một phẩy năm kilôgam) và vẫn còn sử dụng được; Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A2 đều là kíp nổ điện vỏ nhôm. Kíp nổ có tác dụng kích nổ thuốc nổ và đều còn sử dụng được. Kíp nổ là phụ kiện nổ thuộc nhóm vật liệu nổ”.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng tháng 4/2021, Triệu Văn S trong quá trình đi khai thác vàng trái phép tại một hang đá thuộc thôn K, xã T nhà S khoảng 02km đã phát hiện bên trong hang có một túi nilon chứa khoảng 02kg (Hai kilôgam) thuốc nổ ANFO và 14 (Mười bốn) chiếc kíp nổ điện nên S đã mang về nhà cất giấu trên gác xép trong gian bếp nhà S.

Đến khoảng đầu tháng 12/2023, Lâm Văn H trong quá trình đi khai thác vàng trái phép đã phát hiện ra một hang đá cách nhà H khoảng 500m có nhiều nẹp vàng, tuy nhiên do có nhiều đá cứng không khai thác thủ công được, nên sau đó H đã rủ S cùng nhau khai thác vàng. Qua nói chuyện H nói với S “Hang khai thác có chỗ đá cứng, chú có thuốc nổ không” và S trả lời “Trước em nhặt trong hang còn một tí, để trên gác bếp không biết còn nên không” nên H nói “Cứ mang đi làm đi, không nên thì thôi”. Khi thấy H rủ như vậy S đã đồng ý và sau đó H có rủ thêm Đinh Thiện C, Đinh Thiện H1 và Đinh Thiện D1 để cùng nhau đi khai thác vàng tại hang mà H phát hiện ra có nhiều nẹp vàng.

Quá trình đi khai thác vàng vào tháng 12/2023, S mang theo số thuốc nổ, kíp nổ và trực tiếp một mình sử dụng vật liệu nổ để phá đá 06 (sáu) lần, mỗi lần sử dụng 01 (một) kíp nổ điện và khoảng 50g thuốc nổ và có ngày S sử dụng 02 (hai) lần. Sau khi thuốc nổ, kíp điện phát nổ thì S đi ra ngoài cửa hang để thông báo với mọi người và cùng chờ ở bên ngoài, đợi trong hang bay hết khói thì 05 (năm) người cùng nhau dùng búa và đục để lấy quặng vàng cho vào bao tải sau đó vận chuyển về nhà của H để nghiền lấy vàng. Sau khi có vàng thì Hội, C, D1 thay phiên nhau cùng H mang vàng đi bán cho ông Cao Văn D2, sinh năm 1962 trú tại Khu Phố, xã V, huyện N (Là chủ cửa hàng vàng bạc Dũng D3). Số tiền bán vàng khai thác được thì sau khi trừ tiền dầu máy nổ còn lại bao nhiêu thì chia đều cho 05 (năm) người và sau đó mọi người đã chi tiêu cá nhân hết.

Số vật liệu nổ còn lại khi sử dụng không hết thì S đem về cất giấu trên gác xép trong gian nhà bên phải cạnh gian nhà chính của H. Lần cuối sử dụng xong thì số thuốc nổ, kíp nổ còn lại S đưa cho H để cất giấu ở gác xép trong gian nhà bên phải cạnh gian nhà chính của H và cũng là nơi Bàn Văn N ở, sinh hoạt khi làm việc (nấu ăn, trồng rau, phát rừng thuê) cho H, N phát hiện ra số thuốc nổ, kíp nổ mà H cất giấu và nảy sinh ý định lấy mang về nhà để sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, Nhất trèo lên gác xép chỗ Nhất ngủ tại nhà của H lấy trộm 01 (một) túi nilon màu vàng bên trong có 02 (hai) túi nilon chứa thuốc nổ và 08 (tám) kíp nổ điện rồi cất vào phía bên trong áo khoác Nhất đang mặc. Sau đó trên đường đi bộ về nhà thì N gặp ông Triệu Văn B2, sinh năm 1966, trú tại thôn N, xã Đ, huyện N nên N có nhờ ông B2 điều khiển xe mô tô chở N đến nhà ông Triệu Văn T, sinh năm 1962, trú tại thôn B, xã Đ, huyện N rồi cả hai người ngồi chơi ở nhà ông T một lúc. Rồi sau đó N được ông B2 dùng xe mô tô chở đến đường rẽ vào đình chợ xã B để ăn phở và uống bia, sau khi xong thì ông B2 điều khiển xe mô tô đi về, còn N cũng mang theo số vật liệu nổ để trong mũ bông của mình rồi đi bộ về nhà. Khi N đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn N, xã T thì tổ công tác Công an xã T kiểm tra phát hiện và thu giữ toàn bộ số thuốc nổ, kíp nổ mà N lấy được từ nhà của H.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với với nhau và phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại Bản cáo trạng số: 27/CT-VKSBK-P1 ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố các bị cáo Triệu Văn S và Bàn Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lâm Văn H bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.

Điều 305 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào... tàng trữ, vận chuyển, ...mua bán trái phép...vật liệu nổ,thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn S, Bàn Văn N phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ"Tuyên bố bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ"

  • Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Triệu Văn S từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Lâm Văn H từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Bàn Văn N từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56 BLHS tổng hợp với hình phạt 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 10/2024/HS-ST, ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.
  • Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để khẳng định:

Khoảng tháng 4/2021, Triệu Văn S trong quá trình đi khai thác vàng trái phép tại một hang đá thuộc thôn K, xã T, huyện N đã phát hiện bên trong hang có một túi nilon chứa khoảng 02kg (hai kilôgam) thuốc nổ và 14 (mười bốn) chiếc kíp nổ điện nên S đã mang về nhà cất giấu trên gác xép trong gian bếp. Đến khoảng đầu tháng 12/2023, khi cùng với Lâm Văn H và một số người khác đi khai thác vàng trái phép tại khu vực thôn K, xã T thì S đã mang theo số thuốc nổ, kíp nổ điện trên và trực tiếp sử dụng một phần số thuốc nổ, kíp nổ điện để phá đá trong hang khai thác vàng. Số thuốc nổ, kíp nổ điện còn lại gồm 1,5kg (một phẩy năm kilôgam) thuốc nổ và 08 (tám) kíp nổ điện thì Triệu Văn S đưa cho Lâm Văn H mang về cất giấu. Sau đó Bàn Văn N phát hiện ra số thuốc nổ, kíp nổ mà H cất giấu và nảy sinh ý định lấy mang về nhà để sử dụng. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, Nhất trèo lên gác xép tại nhà của H lấy trộm 1,5kg (một phẩy năm kilôgam) thuốc nổ và 08 (tám) kíp nổ điện mà H cất giấu trước đó để mang về nhà sử dụng thì bị phát hiện và thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 291/KL-KTHS ngày 29/01/2023 của V Bộ C1 kết luận: “Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1 là thuốc nổ ANFO có thành phần chính gồm Amoni Nitrat (NH4NO3) và dầu khoáng. Thuốc nổ ANFO là vật liệu nổ thường được sử dụng trong khai khoáng, mở đường...Khối lượng thuốc nổ ANFO là 1,5kg (Một phẩy năm kilôgam) và vẫn còn sử dụng được; Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A2 đều là kíp nổ điện vỏ nhôm. Kíp nổ có tác dụng kích nổ thuốc nổ và đều còn sử dụng được. Kíp nổ là phụ kiện nổ thuộc nhóm vật liệu nổ”.

Hành vi của bị cáo Triệu Văn S và Bàn Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lâm Văn H phạm vào tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước về vật liệu nổ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Triệu Văn S có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Lâm Văn H đang có 01 tiền án về tội “Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ” và bị cáo Bàn Văn N có 01 tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, do vậy các bị cáo H và N phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, các bị cáo Triệu Văn S, Lâm Văn H và Bàn Văn N đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo Triệu Văn S còn có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bà Triệu Thúy T1 là Trưởng thôn K, xã T và bản thân S có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo đều có xác nhận của chính quyền xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Do vậy, bị cáo S được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo Triệu Văn S và Lâm Văn H phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, có vai trò ngang nhau, tuy nhiên, bị cáo S phải chịu trách nhiệm hình sự về hai hành vi là “tàng trữ và vận chuyển” trái phép vật liệu nổ; bị cáo Lâm Văn H chịu trách nhiệm hình sự về một hành vi là “tàng trữ” trái phép vật liệu nổ, do vậy bị cáo S phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H. Bị cáo Bàn Văn N phạm tội độc lập và chịu trách nhiệm về hai hành vi “tàng trữ và vận chuyển” trái phép vật liệu nổ.

Căn cứ vào các quy định của BLHS, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy:

Bị cáo Triệu Văn S có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và bản thân gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, là lao động chính trong gia đình, nuôi con nhỏ, là người dân tộc thiểu số cư trú ở địa bàn đặc biệt khó khăn và được thôn, chính quyền địa phương xin cho hưởng án treo để có điều kiện cải tạo tại nơi cư trú. Do vậy, HĐXX xét thấy cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương thì vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Lâm Văn H và bị cáo Bàn Văn N tính đến ngày phạm tội lần này các bị cáo đều có 01 tiền án, phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “tái phạm”, do đó các bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX sẽ cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo để đưa ra mức hình phạt phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 305 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo tàng trữ vật liệu nổ không nhằm mục đích vụ lợi, hơn nữa các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 1,4kg (một phẩy bốn kilôgam) thuốc nổ ANFO đựng trong 02 (hai) túi nilon bên trong 01 (một) hộp cát tông được niêm phong ký hiệu A1; 08 (tám) kíp điện vỏ nhôm bên trong 01 (một) hộp cát tông được niêm phong ký hiệu A2.
  • Đối với số tiền 800.000đ (T2 trăm nghìn đồng) tạm giữ của Bàn Văn N được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu N1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định số tiền trên thuộc sở hữu của bị cáo N, không liên quan đến hành vi phạm tội, xét thấy cần trả lại cho bị cáo N.

[7] Trong vụ án còn có nội dung: Đối với Đinh Thiện C, Đinh Thiện H1 và Đinh Thiện D1 là những người được H rủ và sau đó tham gia vào việc khai thác khoáng sản (vàng) trái phép cùng với S và H. Qua điều tra xác định công việc của ba người là đục quặng cho vào bao tải và vận chuyển về nhà của H để nghiền tách lấy vàng, sau đó thay phiên nhau cùng H mang vàng đi bán tại cửa hàng vàng bạc Dũng D3. Số tiền thu được sau khi bán vàng đã được chia đều cho 05 (năm) người, mỗi người được khoảng 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ được khoáng sản mà H, S, C, D1, H1 đã khai thác để có căn cứ xác định chủng loại, khối lượng và giá trị khoáng sản. Ngoài lời khai của H, S, C, D1, Hội thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện hành vi khai thác khoáng sản trái phép. Quá trình khai thác khoáng sản (vàng) D1, C, Hội đều không được tiếp xúc với vật liệu nổ cũng như không được cất giấu hay sử dụng vật liệu nổ và cả ba người chỉ biết S sử dụng vật liệu nổ để phá đá trong hang, nhưng không được trực tiếp nhìn thấy S sử dụng mà chỉ nghe thấy tiếng nổ, không biết rõ việc S cất giấu thhuốc nổ, kíp nổ điện còn lại do chưa sử dụng hết tại nhà H. Bản thân D1, C, Hội chưa có tiền án, tiền sự và không được cơ quan chức năng có thẩm quyền nào cấp phép khai thác khoáng sản. Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với D1, C, Hội về các hành vi tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vật liệu nổ cũng như hành vi khai thác khoáng sản trái phép là có căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép vật liệu nổ trong quá trình khai thác vàng thì Triệu Văn S một mình trực tiếp sử dụng vật liệu nổ để phá đá khai thác vàng. Quá trình điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định các vị trí có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên tại khu vực hang khai thác vàng do địa hình hang có kích thước nhỏ hẹp (miệng hang rộng 1,5m, cao 1,8m, dốc từ trên xuống dưới từ ngoài vào trong với độ dốc là 31,6°, từ miệng hang đến vị trí sâu nhất có thể nhìn thấy là 9,1m), hiểm trở và vị trí S sử dụng vật liệu nổ cách cửa hang gần 200m. Quá trình khám nghiệm do thời tiết trời mưa, nền đất yếu và trơn trượt...gây nguy hiểm cho những người tham gia khám nghiệm nên không tiến hành vào hang thu mẫu đất, đá để xác định dấu vết, chứng cứ của việc sử dụng vật liệu nổ được để phục vụ việc giám định xác định chủng loại vật liểu nổ, có cùng loại vật liệu nổ đã thu giữ được không, để có cơ sở khoa học làm căn cứ xử lý. Do đó không đủ căn cứ để xem xét xử lý S, H, D1, C và H1 về hành vi “Sử dụng trái phép vật liệu nổ”.

Đối với ông Cao Văn D2, sinh năm 1962 trú tại Khu Phố, xã V, huyện N (Là chủ cửa hàng vàng bạc Dũng D3, có đăng ký kinh doanh hợp pháp) theo lời khai thì sau khi khai thác được vàng Hội, C, D2 thay phiên nhau cùng H mang vàng đi bán cho ông Cao Văn D2. Quá trình điều tra ông D2 khai nhận trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12/2023 đến cuối tháng 12/2023 có rất nhiều người đến cửa hàng để mua bán vàng nên ông D2 không nhớ là có những ai đến, mua bán và bản thân ông cũng không quen biết H, S, C, D2, Hội. Do đó quá trình điều tra không thu được số lượng vàng các đối tượng khai thác trái phép mang bán cho ông D2 để có căn cứ xác định chủng loại, khối lượng và giá trị khoáng sản. Nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với ông Triệu Văn B2, sinh năm 1966, trú tại thôn N, xã Đ, huyện N là người cho Bàn Văn N đi nhờ xe mô tô đến nhà ông Triệu Văn T, sinh năm 1962, trú tại thôn B, xã Đ, huyện N chơi. Quá trình điều tra xác định ông B2 và ông T không được N nói hay biết việc N có hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với chị Lý Thị G, sinh năm 1993 (Vợ bị cáo Triệu Văn S) trú tại thôn K, xã T, huyện N. Quá trình điều tra xác định chị G không biết và không được S nói hay biết việc S có hành vi tàng trữ, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ trái phép nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo Triệu Văn S và bị cáo Lâm Văn H thuộc hộ nghèo; bị cáo Bàn Văn Nhất là dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí. Do vậy, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn S, Bàn Văn N phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ"Tuyên bố bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ"
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS.
    2. Xử phạt bị cáo Triệu Văn S 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
    4. Xử phạt bị cáo Lâm Văn H 15 (mười năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    5. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Bàn Văn N 18 (mười tám) tháng tù,
    6. Áp dụng khoản 1 Điều 56 BLHS tổng hợp với hình phạt 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 10/2024/HS-ST, ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

  2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu, tiêu hủy: 1,4kg (một phẩy bốn kilôgam) thuốc nổ ANFO đựng trong 02 (hai) túi nilon bên trong 01 (một) hộp cát tông được niêm phong ký hiệu A1; 08 (tám) kíp điện vỏ nhôm bên trong 01 (một) hộp cát tông được niêm phong ký hiệu A2. Hiện các vật chứng trên đang được lưu tại kho vật chứng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Kạn. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận đạn dược ngày 20/02/2024 giữa Công an tỉnh B và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B)
    • Trả lại bị cáo Bàn Văn N số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng). (Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Các bị cáo Triệu Văn S, Lâm Văn H và Bàn Văn N được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Phòng Hình sự CA tỉnh;
  • - Cơ quan An ninh điều tra CA tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Quang Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn S, Bàn Văn N phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ". Tuyên bố bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger