TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 7 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thảo.
Ông Nguyễn Thanh Bình.
- Thư ký phiên toà:
Bà Phạm Thị Huyền Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 26/4/2024, bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Hữu V đăng ký kết hôn ngày 14/02/2012 tại UBND xã N (nay là xã T), huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Hữu V hay uống rượu, cờ bạc và đánh đập nguyên đơn nhiều lần. Do không thể chịu đựng được nên từ năm 2022 đến nay, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay nguyên đơn thấy không thể tiếp tục chung sống để xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái nên yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Hữu V. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Hữu Đức A, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2013 và Nguyễn Hữu Như Ý, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2015. Vợ chồng ly hôn, nguyên đơn yêu cầu giao hai con chung cho anh Nguyễn Hữu V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Nguyên đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn anh Nguyễn Hữu V xác định thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn giống nguyên đơn trình bày. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống bình thường và có lúc cãi vã nhau về chuyện kinh tế gia đình. Nguyên nhân là do quan điểm sống khác nhau về xây dựng kinh tế và chi tiêu trong gia đình dẫn đến mâu thuẫn, cãi vã nhau. Chị Nguyễn Thị D đã rất nhiều lần bỏ về bên ngoại sinh sống sau đó lại về đoàn tụ vợ chồng và rồi lại tiếp tục bỏ đi. Từ ngày 30/6/2022 đến nay, chị Nguyễn Thị D về bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau và không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện tại bị đơn đang còn tình cảm với chị Nguyễn Thị D và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái nên không đồng ý ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như nguyên đơn trình bày. Nếu vợ chồng phải ly hôn, bị đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung đến khi trưởng thành và yêu cầu chị Nguyễn Thị D cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1 tháng 1.500.000 đồng) kể từ tháng tiếp theo của tháng xét xử sơ thẩm đến khi các con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp. Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục tống đạt đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng trình tự theo quy định từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Hữu V. Về con chung: Giao các con chung Nguyễn Hữu Đức A, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2013 và Nguyễn Hữu Như Ý, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2015 cho anh Nguyễn Hữu V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Nguyễn Hữu V, cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D và bị đơn anh Nguyễn Hữu V vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Hữu V có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11/2012, ngày 14 tháng 02 năm 2012 của UBND xã N (nay là xã T), huyện N, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn tin tưởng, yêu thương nhau nên không tìm được tiếng nói chung trong xây dựng kinh tế và hạnh phúc gia đình. Từ năm 2022 đến nay vợ chồng sống ly thân. Chị Nguyễn Thị D giữ nguyên yêu cầu ly hôn, anh Nguyễn Hữu V yêu cầu đoàn tụ vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận định: Việc đoàn tụ vợ chồng là sự tự nguyện của hai bên. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm. Hiện tại vợ chồng không còn chung sống với nhau, không quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Hữu V.
[2.2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Hữu V có 02 con chung là Nguyễn Hữu Đức A, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2013 và Nguyễn Hữu Như Ý, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2015. Trong thời gian vợ chồng không chung sống với nhau, các con chung do anh Nguyễn Hữu V trực tiếp nuôi dưỡng, các con chung phát triển bình thường, học tập ổn định. Các con chung có nguyện vọng được sống với bố Nguyễn Hữu V. Anh Nguyễn Hữu V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung trưởng thành; chị Nguyễn Thị D đề nghị giao các con chung cho anh Nguyễn Hữu V nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử giao các con chung cho anh Nguyễn Hữu V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Căn cứ vào quy định tại các Điều 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 3 của Nghị định số 74/2024/NĐ-CP, ngày 30/6/2024 của Chính phủ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về mức cấp dưỡng: Anh Nguyễn Hữu V yêu cầu chị Nguyễn Thị D cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị D đồng ý cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng. Như vậy các đương sự không thỏa thuận được nên mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Theo quy định thì huyện N thuộc vùng 3 và mức lương tối thiểu vùng là 3.860.000 đồng, tức là mức cấp dưỡng tối thiểu cho mỗi cháu không được thấp hơn 1.930.000 đồng/tháng. Chị Nguyễn Thị D cho rằng do mức thu nhập thấp, cuộc sống chưa ổn định nên chỉ đồng ý cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng cho cả 2 con chung (mỗi con chung một tháng 500.000 đồng) là không đảm bảo nhu cầu thiết yếu của các con và không phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Hữu V yêu cầu cấp dưỡng mỗi con chung một tháng 1.500.000 đồng là sự tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử buộc chị Nguyễn Thị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung một tháng 1.500.000 đồng).
Về phương thức cấp dưỡng: Để đảm bảo nhu cầu cho các con và tình hình thực tế của người phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử quyết định phương thức cấp dưỡng theo tháng.
Về thời điểm cấp dưỡng: Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con. Anh Nguyễn Hữu V và chị Nguyễn Thị D thừa nhận từ tháng 6/2022 đến nay, chị Nguyễn Thị D không sống chung với các con nhưng anh Nguyễn Hữu V yêu cầu chị Nguyễn Thị D cấp dưỡng nuôi các con chung kể từ tháng tiếp theo của tháng xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử buộc chị Nguyễn Thị D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung kể từ tháng 8 năm 2024 đến khi các con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
[2.4]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 108, 110, 116, 117 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Hữu V.
- Về nuôi con chung: Giao các con chung Nguyễn Hữu Đức A, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2013 và Nguyễn Hữu Như Ý, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2015 cho anh Nguyễn Hữu V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Nguyễn Thị D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung cho anh Nguyễn Hữu V mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), (mỗi con chung một tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 8 năm 2024 đến khi các con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001633, ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị D còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được Thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
