TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 31 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giữ - Bà Nguyễn Thị Thu Sương.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn H (R), sinh năm 1995; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1975 và bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần. Ngày 15/6/2022, bị Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong quyết định; về nhân thân: Chưa phát hiện bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Châu Thị Huỳnh N, sinh ngày 13/10/2000; nơi sinh: Huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; chổ ở: Nhà trọ “Thanh Trúc” thuộc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Hoài P, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1976; bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Minh C, sinh năm 1995 (không đăng ký kết hôn), có 03 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa phát hiện bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Phú C1 (Đ), sinh năm 2003; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái H2, sinh năm 1981 và bà Lê Thị M, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa phát hiện bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt)
- Những người làm chứng được triệu tập đến phiên tòa: Nguyễn Văn M1 (vắng mặt), Nguyễn Thị Mỹ L (vắng mặt), Nguyễn Thành Đ1 (vắng mặt), Nguyễn Minh C (vắng mặt), Phạm Thị X (vắng mặt), Phạm Kim T2 (vắng mặt), Dương Thị Hồng L1 (vắng mặt).
- Người chứng kiến: Nguyễn Phát Đ2 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 23/9/2023, nhận được tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân tại phòng trọ không số nhà trọ “Thanh Trúc” thuộc ấp B, xã B, huyện C do Châu Thị Huỳnh N thuê để sinh sống, có nghi vấn tổ chức và sử dụng trái phép chất ma túy, nên Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã B tiến hành kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Như cùng Nguyễn Văn H và Nguyễn Phú C1 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Đồng thời, thu giữ 01 (Một) bọc nilon trong suốt có rãnh bóp màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 (Một) chai nhựa, 02 (Hai) đoạn ống hút bằng nhựa, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, 01 (Một) xe mô tô biển số 51X2 - 5636. Qua làm việc, H, N và C1 khai nhận bọc ni long chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá do H mua của một người thanh niên tên Đ (không rõ họ, địa chỉ) tại khu vực phường N, thành phố C với giá 1.000.000 đồng rồi mang đến phòng trọ do Như quản lý, H lấy ma túy để vào dụng cụ sử dụng ma túy cùng với N và C1 sử dụng, trong lúc sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra nên Hạp mang số ma túy còn lại và dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu vào trong nhà tắm, nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Ngoài ra, H, N và C1 còn khai nhận: Phòng trọ do N bắt đầu thuê, quản lý và trực tiếp sử dụng từ ngày 12/8/2023 cho đến ngày bị bắt quả tang. Trong thời gian từ ngày 17/9/2023 đến ngày 23/9/2023, H, N và C1 đã 06 lần tổ chức sử dụng trái phép ma túy đá tại phòng trọ do Như quản lý. Mỗi lần H, N, C1 mua ma túy đá từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng (có khi Hạp tự mua hoặc H, Như, C1 hùn tiền lại để mua ma túy), dụng cụ sử dụng ma túy là do H và C1 làm, sử dụng xong thì cất tại phòng trọ của Như, khi nào có nhu cầu sử dụng thì mang ra cùng sử dụng.
Quá trình điều tra H còn khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 16/6/2023, Nguyễn Thanh T3 rủ H đi tìm tài sản lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài thì H đồng ý. T3 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở H đến khu vực ấp P, xã P, huyện A thì T3 dừng xe lại kêu H đứng bên ngoài cảnh giới, T3 đi vào bên trong nhà của Võ Văn T1 lấy trộm 01 (Một) xe mô tô biển số 67G1- 191.56 dẫn ra bên ngoài, rồi cả hai điều khiển xe về nhà trọ “123” thuộc ấp B, xã B, huyện C cất giấu. Đến sáng hôm sau T3 cho H 500.000 đồng và giao xe mô tô lấy trộm được (đã thay đổi biển số 67G1- 191.56 thành biển số 51X2 - 5636) cho H để làm phương tiện đi lại. Riêng Võ Văn T1 khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã đến Công an xã P, huyện A trình báo sự việc. Đến ngày 23/9/2023, H sử dụng xe mô tô để làm phương tiện đi mua ma túy.
Ngày 29/9/2023, H và N bị khởi tố, điều tra. Ngày 29/01/2024, C1 bị khởi tố, điều tra. Ngày 07/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A khởi tố Hạp về tội “Trộm cắp tài sản” và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để điều tra.
Tại Bản kết luận giám định số 184/KL-KTHS (MT-GT) ngày 27/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:
- 01 (Một) phong bì được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang, dấu vân tay màu đỏ ghi tên Nguyễn Văn H và các chữ ký ghi tên: Lê Minh H3, Phạm Văn T4, Châu Thị Huỳnh N. Bên trong có 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa, chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng 0,4853 gam (không phẩy bốn tám năm ba gam) (Kí hiệu M).
Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine có khối lượng 0,4853 gam (không phẩy bốn tám năm ba gam).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 159/KL-HĐĐG.TTHS ngày 07/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: 01 (Một) xe mô tô biển số 67G1-191.56, nhãn hiệu WAVE RSX, màu sơn vàng đen, trị giá 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 1479/KLGDĐT-C09B ngày 04/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 02 năm 2024) Châu Thị Huỳnh N có thể chất đã phát triển hoàn thiện, các đầu xương đã cốt hóa và liền hoàn toàn vào thân xương, không đủ cơ sở kết luận chính xác độ tuổi.
Các vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (Một) bọc nilon trong suốt có rãnh bóp màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy; 01 (Một) chai nhựa; 02 (Hai) đoạn ống hút bằng nhựa; 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen; 01 (Một) xe mô tô (biển số 67G1-191.56 bị thay thế bằng biển số 51X2 – 5636) (đã trả lại cho bị hại Võ Văn T1 theo biên bản trả lại tài sản ngày 07/01/2024).
Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án khai như sau:
- Các bị cáo Nguyễn Văn H, Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 đã thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận phù hợp nội dung vụ án. Ngoài ra, N còn khai nhận: Như sinh năm 1995, nhưng được cha mẹ đăng ký khai sinh ngày 13/10/2000, khi Như sinh đứa con đầu tiên thì N đã được 19 tuổi.
- Bị hại ông Võ Văn T1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án. Hiện ông T1 đã nhận lại xe mô tô, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Những người làm chứng Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thành Đ1, Nguyễn Minh C, Phạm Thị X, Phạm Kim T2, Dương Thị Hồng L1 và người chứng kiến Nguyễn Phát Đ2 khai phù hợp nội dung vụ án.
Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 15 tháng 5 năm 2024: Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a, b khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; xét xử các bị cáo Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoan 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Văn H, Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và truy tố. Các bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng, các bị cáo nhận tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thấy ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với bị cáo N còn khai đã sống ly thân chồng Nguyễn Minh C, hiện chồng đang nuôi 02 con, mẹ Như nuôi 01 con, Như đi làm công nhân để kiếm tiền gửi về nuôi 03 con nhỏ, gia đình Như có hoàn cảnh khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 08 (T5) năm đến 09 (C2) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tổng hợp hình phạt của cả 03 tội danh là từ 09 (Chín) năm 09 (Chín) tháng tù đến 11 (Mười một) năm 06 (S) tháng tù.
+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Châu Thị Huỳnh N từ 07 (B) năm đến 08 (T5) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C1 từ 07 (B) năm đến 08 (T5) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1.
- Về biện pháp tư pháp, đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng, tài sản như sau:
+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (Một) chai nhựa; 02 (Hai) đoạn ống hút bằng nhựa; 01 (Một) biển số 51X2 – 5636; 01 (Một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 184/KL-KTHS(MT-GT) ngày 27/9/2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H4, Lê Minh H3, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,43g (không phẩy bốn ba gam).
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng gồm: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai ở cơ quan điều tra và phù hợp nội dung vụ án, nên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ các điều 292, 293 và 296 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn H, Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với các lời khai của bị hại, người làm chứng, người chứng kiến; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C; Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A; Bản kết luận giám định số 184/KL-KTHS (MT-GT) ngày 27/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh A; Bản kết luận định giá tài sản số 159/KL-HĐĐG.TTHS ngày 07/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A; Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 1479/KLGĐĐT-C09B ngày 04/3/2024 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Châu Thị Huỳnh N và các vật chứng thu giữ được trong vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:
- Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4853 gam (không phẩy bốn tám năm ba gam). Hạp có hành vi cung cấp chất ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để 05 (Năm) lần cùng Nguyễn Phú C1, Châu Thị Huỳnh N thực hiện việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của Như. Ngoài ra, H còn có hành vi giúp sức cho Nguyễn Thanh T3 (đã chết) để lén lút lấy trộm 01 (Một) xe mô tô biển số 67G1- 191.56 trị giá 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) của ông Võ Văn T1.
- Châu Thị Huỳnh N có hành vi hùn tiền mua ma túy về sử dụng (01 lần cùng với C1), 06 (Sáu) lần sử dụng địa điểm là phòng trọ của N và cất giữ, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy để cùng Nguyễn Văn H, Nguyễn Phú C1 sử dụng trái phép chất ma túy.
- Nguyễn Phú C1 đã có hành vi hùn tiền và đi mua ma túy về sử dụng (01 lần cùng với N), 02 (Hai) lần giúp H đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy để cùng Nguyễn Văn H và Châu Thị Huỳnh N sử dụng trái phép chất ma túy.
[2.2] Việc mua bán, trao đổi, tàng trữ, sản xuất, vận chuyển trái phép chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm. Các bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thấy được thiệt hại về trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy, có thể ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe cho người sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn H, Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với hành vi của bị cáo H còn đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo H còn đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhận thấy:
Methamphetamine (ma túy đá) là một dạng ma túy tổng hợp, chất gây nghiện cực kỳ nguy hiểm, có tác hại rất lớn đến trí tuệ, sức khỏe, tính mạng của con người, có thể làm cho người sử dụng không thể kiểm soát được hành vi của bản thân và có những hành vi xâm phạm đến tài sản, tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo nhiều lần mua ma túy và tổ chức, tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy, cho thấy thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Khi bị lực lượng công an phát hiện thì bị cáo H cất giấu ma túy vào nhà vệ sinh nhằm né tránh, gây khó khăn cho việc phát hiện, xử lý. Bị cáo H là người chủ động rủ rê N và C1 sử dụng ma túy, trực tiếp dùng tiền của mình để đi mua ma túy hoặc đưa tiền cho C1 đi mua ma túy; chuẩn bị dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy cùng với N và C1. Bị cáo N có hùn tiền mua ma túy, cất giữ và chuẩn bị dụng cụ mỗi khi sử dụng ma túy, chuẩn bị địa điểm là phòng trọ của mình để cùng với H và C1 sử dụng ma túy. Bị cáo C1 có chủ động rủ N và H sử dụng ma túy, có hùn tiền mua ma túy, giúp cho H đi mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy.
Các bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó cả ba bị cáo đều là người thực hành, bị cáo C1 con giúp sức cho H đi mua ma túy về sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt của bị cáo H cao hơn mức hình phạt của bị cáo N và C1; áp dụng mức hình phạt của bị cáo C1 cao hơn mức hình phạt của bị cáo N cùng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Riêng đối với bị cáo H còn phải chịu hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”.
[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do tình tiết phạm tội 02 lần trở lên đã được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo H, N và C1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài hành vi phạm tội khi bị bắt quả tang thì các bị cáo đã tự thú các lần phạm tội trước về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với bị cáo N chưa có tiền án, tiền sự, có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế nên bị rủ rê, lôi kéo vào việc phạm tội, bản thân Như đang đi làm thuê để gửi tiền nuôi 03 con nhỏ. Đối với bị cáo C1 chưa có tiền án, tiền sự, nhận thức pháp luật hạn chế nên bị rủ rê, lôi kéo vào việc phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo H, N và C1 quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo N và C1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[2.5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo H, N và C1 có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[2.6] Đối với B1, O, Đ là những người bán ma túy cho Nguyễn Văn H, Nguyễn Phú C1 do chưa xác định được họ, địa chỉ và chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Đối với Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 ngày 22/9/2023 do không hùn tiền mua ma túy cùng với Nguyễn Văn H, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N và C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ.
[2.7] Nguyễn Thanh T3 (T) có hành vi cùng với Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản, nhưng T3 đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T3 là có căn cứ.
[2.8] Châu Thị Huỳnh N sinh ngày 13/10/2000 chung sống như vợ chồng với người thanh niên tên P1 (không rõ họ, địa chỉ) và có 01 con chung sinh ngày 09/3/2014 khi đó N được 13 tuổi 04 tháng 24 ngày, thì hành vi của P1 có dấu hiệu của tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự. Năm 2016, Như tiếp tục chung sống như vợ chồng với Nguyễn Minh C khi đó N được 15 tuổi 02 tháng, thì hành vi của C có dấu hiệu của tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, căn cứ kết quả giám định pháp y về độ tuổi, lời khai của những người biết sự việc thì không đủ căn cứ để xác định tại thời điểm chung sống như vợ chồng với P1 và C thì N được bao nhiêu tuổi và sinh năm nào, hiện cũng không làm việc và xác định được P1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P1 và Nguyễn Minh C là có căn cứ.
[3] Về biện pháp tư pháp:
[3.1] Đối với các vật chứng gồm: 01 (Một) chai nhựa; 02 (Hai) đoạn ống hút bằng nhựa; 01 (Một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 184/KL-KTHS(MT-GT) ngày 27/9/2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H4, Lê Minh H3, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,43gam. Xét thấy, đây là các dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy, chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[3.2] Đối với các vật chứng gồm: 01 (Một) biển số 51X2-5636, qua tra cứu biển số xe này có số khung: VTPCG003YVN004760, số máy: LC150FMG02083960, đăng ký tên chủ xe là ông Nguyễn Văn M1. Tuy nhiên, ông M1 khai xe này M1 mua cách đây khoảng 08 năm, sử dụng được 05 năm thì đã bán lại cho người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ), hiện M1 không biết xe đang ở đâu, ai quản lý, sử dụng; Mẫm không còn sở hữu xe mô tô này nên không yêu cầu trả lại biển số xe; hiện biển số 51X2-5636 không còn giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy biển số 51X2-5636. Trường hợp người đang quản lý, sử dụng xe mô tô số khung: VTPCG003Y VN004760, số máy: LC150FMG02083960 có nhu cầu thì liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xin cấp lại biển số xe theo quy định pháp luật.
[3.3] Đối với vật chứng gồm: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen. Đây là phương tiện bị cáo H liên lạc mua ma túy, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H: 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Tổng hợp hình phạt của cả ba tội danh là 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 23 (Hai mươi ba) tháng 9 (C2) năm 2023 (Hai không hai ba).
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;Tuyên bố: Bị cáo Châu Thị Huỳnh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Châu Thị Huỳnh N: 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 23 (Hai mươi ba) tháng 9 (C2) năm 2023 (Hai không hai ba).
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Châu Thị Huỳnh N.
- Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phú C1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C1: 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 05 (Năm) tháng 02 (Hai) năm 2024 (Hai không hai bốn).
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Phú C1.
- Căn cứ vào Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng bao gồm: 01 (Một) chai nhựa; 02 (Hai) đoạn ống hút bằng nhựa (đã qua sử dụng); 01 (Một) biển số xe 51X2-5636 (đã qua sử dụng); 01 (Một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 184/KL-KTHS(MT-GT) ngày 27/9/2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H4, Lê Minh H3, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,43g (không phẩy bốn ba gam).
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng bao gồm: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen (đã qua sử dụng).
Tất cả vật chứng, tài sản nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Châu Thị Huỳnh N và Nguyễn Phú C1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Văn Giữ Sương | Nguyễn Duy Linh |
Nguyễn Thị Thu |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy, Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạt tù
