TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HSPT Ngày 30-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Bà Đinh Thị Như Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 40/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn V và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn V, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1981 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); có vợ là Phạm Thị H1 và 02 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: - Tại bản án số 69/2007/HSST ngày 11/12/2007 của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. (đã được xóa án tích)
- Năm 2009, bị Công an huyện K, tỉnh Đăk Lăk xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Phan Anh T (tên gọi khác: T tít), sinh ngày 06 tháng 6 năm 1995 tại tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Phan Bá H2 và bà Trần Thị H3; có vợ là Lê Thị T1 và 03 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
3. Ngô Văn V1, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2004 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Đ và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975; bị cáo chưa vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
4. Cao Đăng T2, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2005 tại tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đăng Đ1 và bà Đoàn Thị L (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
5. Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1988 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Hồng H4, sinh năm 1963; có vợ là Trịnh Thị C (đã ly hôn) và 02 người con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
6. Ngô Văn T3, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1994 tại tỉnh Gia Lai. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T4 và bà Bùi Thị L2; có vợ là Mai Thị T5 và 02 người con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 07/11/2023, Phan Anh T, Cao Đăng T2 và Ngô Văn V1 đến quán cà phê “Nắng ấm” tại Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai do anh Lê Duy S1, sinh năm 1983 làm chủ, để uống nước thì V1 nhìn thấy ở bàn bên cạnh có 02 bộ bài tú lơ khơ, loại 52 lá nên lấy 02 bộ bài này rủ T và T2 đánh bài ghi điểm trả tiền nước, thì T có hỏi là “đánh khạp hả?” (nghĩa là đánh bạc dưới hình thức tiến lên, ăn tiền). T2 có nói đánh bài “Liêng”, thì tất cả đồng ý. Sau đó, T, T2, V1 thống nhất hình thức chơi là đánh bài “Liêng” thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng. T sử dụng số tiền là 1.300.000₫ (một triệu ba trăm ngàn đồng), T2 sử dụng số tiền là 1.100.000₫ (một triệu một trăm ngàn đồng), V1 sử dụng số tiền là 1.100.000đ (một triệu một trăm ngàn đồng) để tham gia đánh bạc. Cả 03 sử dụng bộ bài tú lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) lá bài, trước khi chia bài mỗi người chơi phải bỏ ra 10.000 đồng (mười ngàn đồng), riêng người chia bài phải bỏ ra 20.000 đồng (hai mươi ngàn đồng) tiền này được gọi là “Tiền tẩy”. Khi chia bài xong thì người ngồi liền kề bên tay phải với người chia bài được quyền bỏ ra số tiền thấp nhất là 20.000 đồng (được gọi là “Theo”) hoặc trên 20.000 đồng nhưng không quá 100.000 đồng (được gọi là “Tố”) hoặc bỏ bài (tức từ bỏ ván chơi nếu tất cả những người còn lại đều bỏ bài thì người người chia bài được lấy toàn bộ số “Tiền tẩy” của những người khác đã bỏ ra trước đó). Tiếp đến khi người này “Tố” hoặc “Theo” thì người tiếp theo bên tay phải người này có quyền “Theo” (tức bỏ ra số tiền bằng số tiền người trước đã bỏ) hoặc bỏ bài hoặc “Tố thêm” (tức ngoài số tiền bằng tiền người trước thì bỏ thêm số tiền nhưng không quá 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), cứ như vậy quay vòng khi nào không ai “Tố thêm” nữa (được gọi là “Cân”) thì ván bài kết thúc và mở các lá bài. Khi mở lá bài cao nhất sẽ thắng và ăn hết số tiền trên chiếu bạc (gồm cả “tiền tẩy” và “tiền tố”). Trong lúc T, V1 và T2 đang đánh bạc, thì Nguyễn Thanh L1 mang theo số tiền 900.000đ (chín trăm ngàn đồng) vào cùng đánh bạc. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn V gọi điện thoại cho Phan Anh T thì T rủ qua quán cà phê để uống nước. Khi V đến quán cà phê thì T ra về để đưa con đi học và có nói lại với V vào đó ngồi chơi. Sau đó, V thấy T2, L1 và V1 đang ở trong quán cà phê đánh bạc thì V vào xin chơi cùng, V sử dụng số tiền 1.390.000đ (một triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng) để đánh bạc. Một lúc sau T quay lại tiếp tục tham gia đánh bạc. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày Ngô Văn T3 đi ngang quán cà phê thì ghé vào rồi cùng tham gia đánh bạc với T, T2, V1, L1 và V. Khi đánh bạc thì T3 mang theo số tiền 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng). Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, do bận công việc nên T3 đã nghỉ, còn các bị cáo khác tiếp tục tham gia đánh bạc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, trong lúc T, V1, L1, T2 và V đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Quá trình bắt quả tang Cơ quan Cảnh sát điều ra Công an huyện Đ đã thu giữ:
- 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, loại 52 lá phục vụ cho việc đánh bạc.
- Số tiền 5.790.000đ (năm triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng), gồm:
+ Trên chiếu bạc số tiền 490.000đ (bốn trăm chín mươi ngàn đồng).
+ Thu giữ của Phan Anh T số tiền 1.100.000₫ (một triệu một trăm ngàn đồng), Ngô Văn V1 số tiền 1.900.000đ (một triệu chín trăm ngàn đồng), Nguyễn Thanh L1 số tiền 600.000₫ (sáu trăm ngàn đồng), Nguyễn Văn V số tiền 1.200.000đ (một triệu chín trăm ngàn đồng) và Cao Đăng T2 số tiền 500.000₫ (năm trăm ngàn đồng). Đây là số tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
Ngoài ra, còn thu giữ trong ví của Phan Anh T số tiền 504.000 đồng (năm trăm lẻ bốn ngàn đồng), trong ví Ngô Văn V1 số tiền 5.000 đồng (năm ngàn đồng), trong ví Cao Đăng T2 số tiền 5.000 đồng (năm ngàn đồng), trong ví Nguyễn Văn V số tiền 1.225.000 đồng (một triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Đây là số tiền cá nhân của các bị cáo.
Đối với Ngô Văn T3, sau khi đi về nhà thì biết lực lượng Công an đã bắt quả tang các bị cáo đánh bạc tại quán cà phê “Nắng Ấm” nên ngày 08/11/2023, T3 đã đến Công an huyện Đ đầu thú và giao nộp số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) là tiền dùng để đánh bạc.
Tổng số tiền của các bị cáo dùng để đánh bạc là 6.390.000 đồng (sáu triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng).
- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Phan Anh T, Ngô Văn V1, Cao Đăng T2, Nguyễn Thanh L1, Ngô Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn V.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38, 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn V1, Nguyễn Thanh L1, Cao Đăng T2.
Xử phạt bị cáo Cao Đăng T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn V1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L1 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điều 38, 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phan Anh T, Ngô Văn T3.
Xử phạt bị cáo Phan Anh T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T3 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
• Kháng cáo của các bị cáo:
Các ngày 03, 04 và 17/4/2024, các bị cáo Nguyễn Văn V, Phan Anh T, Ngô Văn V1, Cao Đăng T2, Nguyễn Thanh L1 và Ngô Văn T3 kháng cáo về phần hình phạt, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt tù và cho các bị cáo hưởng án treo.
- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 18/7/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm cho các bị cáo Ngô Văn V1 và Cao Đăng T2. Tại phiên tòa, các bị cáo V1 và T2 vắng mặt, không có lý do.
Hội đồng xét xử thấy rằng, việc vắng mặt của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xét xử vắng mặt các bị cáo Ngô Văn V1 và Cao Đăng T2.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Vào sáng ngày 07/11/2023 tại quán cà phê “Nắng ấm” tại Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, các bị cáo Phan Anh T, Ngô Văn V1 và Cao Đăng T2 đang cùng thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Liêng” được thua bằng tiền. Sau đó, các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh L1 và Ngô Văn T3 đến và cùng tham gia. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện và bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 6.390.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo:
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò đồng phạm và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã có sự phân hóa khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo, tuy nhiên mức án đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Văn V 12 tháng tù, bị cáo Phan Anh T 10 tháng tù, bị cáo Cao Đăng T2 và Ngô Văn V1 09 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thanh L1 08 tháng tù là có phần nghiêm khắc đối với các bị cáo. Và cũng cần xem xét, vụ án này mang tính chất đồng phạm giản đơn, hành vi phạm tội của các bị cáo là phát sinh tức thời, không có sự bàn bạc thống nhất gì trước và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm ngày trở lại với cộng đồng, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn V tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã giao nộp 01 đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, bản thân bị cáo mắc bệnh tiểu đường tip 2, sỏi thận, sỏi niệu quản phải/giãn niệu quản phải ứ nước độ 4 gây giảm sút sức khỏe. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, nhân thân bị cáo đã từng bị xử phạt 06 tháng tù, được hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội lần này, cho thấy việc để bị cáo tiếp tục cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là không đủ để giáo dục bị cáo. Đối với các bị cáo Phan Anh T, Ngô Văn V1 và Cao Đăng T2: Các bị cáo là đồng phạm tham gia với vai trò người khởi xướng, thực hiện tích cực tham gia từ đầu. Do đó, Hội đồng xét thấy rằng cần buộc các bị cáo Nguyễn Văn V, Phan Anh T, Ngô Văn V1 và Cao Đăng T2 phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.
Đối với các bị cáo Nguyễn Thanh L1 và Ngô Văn T3: Xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tham gia với vai trò là người thực hiện, không tham gia ngay từ đầu và số tiền sử dụng đánh bạc của 2 bị cáo cũng ít hơn so với các bị cáo khác. Bên cạnh đó, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định đủ điều kiện hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng không nhất thiết phải cách lý các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho các bị cáo cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn V, Phan Anh T, Ngô Văn V1, Cao Đăng T2 và Nguyễn Thanh L1; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thanh L1 và Ngô Văn T3, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh L1 và một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn V, Phan Anh T, Ngô Văn V1, Cao Đăng T2, Ngô Văn T3, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn V.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 8 (T6) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Anh T.
Xử phạt bị cáo Phan Anh T 7 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn V1, Cao Đăng T2.
Xử phạt bị cáo Cao Đăng T2 7 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn V1 7 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh L1.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L1 7 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 30/7/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn T3.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T3 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 30/7/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh L1 cho UBND xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Ngô Văn T3 cho UBND thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn V, Phan Anh T, Ngô Văn V1, Cao Đăng T2, Nguyễn Thanh L1, Ngô Văn T3 mỗi bị cáo số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Văn V, Phan Anh T, Ngô Văn V1, Cao Đăng T2, Nguyễn Thanh L1 và Ngô Văn T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - CQCSĐT huyện Đ; - VKSND huyện Đ; - TAND huyện Đ(2); - Chi cục THADS huyện Đ; - Các bị cáo; - Lưu VT, THS, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Võ Văn Bình |
Bản án số 33/2024/HSPT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 33/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa BAHSST
