Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 33/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Ninh và bà Trần Thị Liên
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-DS ngày 05/6/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (B1); địa chỉ: Số A đường Q, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo pháp luật: Bà Thái H - Chức vụ: Tổng giám đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Hữu L - Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Q (Theo văn bản ủy quyền số 19/2023/QĐ-TGĐ ngày 11/01/2023). Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Nguyễn Anh T - Chức vụ: Trưởng phòng kinh doanh; ông Hoàng Văn C - Chức vụ: Trưởng phòng thẩm định; ông Trần Bảo N - Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Chi nhánh Q, cùng địa chỉ: Số B đường T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. (Theo văn bản ủy quyền số 11/2024/UQ-GĐ ngày 28/02/2024)

  • - Bị đơn: Ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1,

    Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, đều có mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, đều có mặt;
    • + Ông Ngô Văn H3, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
    • - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Văn N1: ông Dương Viết T2, địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2024, các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa xét xử vụ án, phía nguyên đơn trình bày:

Ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 vay vốn tại B2 - Chi nhánh Q, theo từng hợp đồng cụ thể như sau:

Đối với Hợp đồng tín dụng số: 544/2022/HĐTD – B3 ngày 02/11/2022 (Viết tắt là HĐTD số 544) giữa B2 - Chi nhánh Q với ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 ký kết thỏa thuận gồm 02 khế ước:

  • + Khế ước nhận nợ số: 03 – 544/2022/HĐTD – B3 ngày 18/04/2023 ( viết tắt là Khế ước 03), số tiền: 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn cho vay: 05 tháng kể từ ngày 18/04/2023 đến ngày 18/09/2023. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 11,5 %/Năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn x 150%. Lịch trả nợ lãi: ngày 25 hàng tháng. Lịch trả nợ gốc: Cuối kỳ. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua thức ăn nuôi tôm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • + Khế ước nhận nợ số: 04 – 544/2022/HĐTD – B3 ngày 05/05/2023 ( Viết tắt là Khế ước 04), số tiền: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Thời hạn cho vay: 06 tháng kể từ ngày 05/05/2023 đến ngày 05/11/2023. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 12,0%/Năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn x 150%. Lịch trả nợ lãi: ngày 25 hàng tháng. Lịch trả nợ gốc: Cuối kỳ. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua thức ăn nuôi tôm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng số 544, ông Ngô Văn N1 và Bà Mai Thị H2 (là bố mẹ ruột của ông Ngô Văn T1) đã ký kết Hợp đồng thế chấp số 438/2021/HĐTC/BacABank.500 ngày 15/10/2021 ( viết tắt là HĐTC số 438) và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số PL01-438/2020/HĐTC/BacABank.500 ngày 02/11/2022, (Viết tắt là HĐSĐBSHĐTC số PL01- 438). Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số: DA 326529, số vào sổ cấp GCN: CS 03582 do Sở tài nguyên và môi trường Tỉnh Q cấp ngày 30/03/2021 mang tên ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, BAC B2 - Chi nhánh Q đã giải ngân đủ cho ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 tổng số tiền: 1.250.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng) theo các Khế ước số 03, 04, có đầy đủ chữ ký của ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1. Quá trình trả nợ ông T1 bà H1 có trả lãi trong hạn được: 27.057.662 đồng. Đối với K ước 03: Từ ngày 25/06/2023 đến nay, khách hàng đã quá hạn tiền lãi; đồng thời từ ngày 18/09/2023, khách hàng đã quá hạn gốc. Đối với Khế ước số 04: Ngày 26/6/2023, ông T1, bà H1 quá hạn trả lãi và từ ngày 05/11/2023 khách hàng quá hạn trả tiền gốc.

Do ông T1, bà H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu ông T1 bà H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 544. Sau khi Ngân hàng khởi kiện và trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đến ngày 15/04/2024, ông T1 bà H1 có trả được một phần nợ gốc số tiền 90.500.000 đồng.

Đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm, ông T1 bà H1 còn tổng dư nợ: 1.395.098.307 đồng, cụ thể:

  • Đối với Khế ước 03: Tổng dư nợ: 806.977.676 đồng; trong đó nợ gốc: 659.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 27.410.916 đồng; nợ lãi quá hạn: 117.135.298 đồng; Lãi chậm trả: 2.931.462 đồng.
  • Đối với K ước 04: Tổng dư nợ: 588.120.631 đồng; trong đó nợ gốc: 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 23.122.793 đồng; nợ lãi quá hạn: 63.369.740 đồng; Lãi chậm trả: 1.628.098 đồng.

Ngoài ra, ông T1, bà H1 còn vay vốn tại B2 - Chi nhánh Q theo Hợp đồng tín dụng số 35/2021/HĐTD – B3 ngày 21/01/2021 (Viết tắt là HĐTD số 35). Bao gồm 01 khế ước nhận nợ số: 01- 35/21/HĐTD – B3 ký ngày 21/01/2021. Thời hạn cho vay: 07 năm kể từ ngày 21/01/2021 đến ngày 21/01/2028. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 8,99 %/năm. Từ ngày 21/01/2022 lãi suất cho vay bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12 tháng bằng đồng việt nam trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP B tại thời điểm điều chỉnh + với biên độ 5,20%/năm và được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Lịch trả nợ lãi: ngày 25 hàng tháng theo dư nợ thực tế. Lịch trả nợ gốc: theo quý (3 tháng 1 lần). Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua xe ô tô con hiệu Toyota Fortuner 2.4 AT 4x2 mới 100% đời 2020.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng số 35, ông Ngô Văn H3 (là con trai ruột của ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1) đã thế chấp tài sản là: Xe ô tô con hiệu Toyota Fortuner 2.4 AT 4x2 mới 100% đời 2020 mang biển kiểm soát 73A - 195.13, bằng việc ký kết Hợp đồng thế chấp số 35/2021/HĐTC/BacABank.500 ngày 21/01/2021 (Viết tắt là HĐTC số 35)

Quá trình thực hiện HĐTD số 35, B2 - Chi nhánh Q đã giải ngân đủ cho ông Ngô Văn T1 và Bà Trịnh Thị H1 tổng số tiền 800.000.000 đồng (T3 trăm triệu đồng chẵn). Từ ngày 25/06/2023 khách hàng đã quá hạn tiền lãi, đồng thời đã quá hạn gốc từ ngày 25/07/2023. Tổng dư nợ đến thời điểm Ngân hàng làm đơn khởi kiện ngày 26/02/2024 là: 593.477.563 đồng. (Trong đó nợ gốc trong hạn: 458.000.000 đồng. Nợ gốc quá hạn: 75.500.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 173.162 đồng. Nợ lãi quá hạn: 59.804.401 đồng). Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 theo HĐTD số 35. Trường hợp ông Ngô Văn T1 và Bà Trịnh Thị H1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì buộc ông Ngô Văn H3 thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo HĐTC số 35.

Tuy nhiên, sau khi Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, đến ngày 15/04/2024, ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 đã trả được nợ, tất toán khoản vay của HĐTD số 35.

Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP B rút một phần yêu cầu đơn kiện về việc: Buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 theo Hợp đồng tín dụng số 35/2021/HĐTD – B3 21/01/2021, vì ông T1, bà H1 đả trả nợ xong.

Ngân hàng TMCP B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 theo Hợp đồng tín dụng số 544/2022/HĐTD - B3 ký ngày 02/11/2022 giữa Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Q và ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 tạm tính đến ngày 30/8/2024 tổng số tiền là: 1.395.098.307 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi lăm triệu, không trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm lẻ bảy đồng), trong đó nợ gốc: 1.159.500.000 đồng (Một tỷ, một trăm năm mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng), nợ lãi quá hạn: 235.598.307 đồng (hai trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm lẻ bảy đồng) và toàn bộ các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 31/8/2024 cho đến ngày ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.

Trường hợp ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC số 438 và HĐSĐBSHĐTC số PL01- 438 ký giữa Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Q và ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 504 tờ bản đồ số 09 ở thôn T, xã H, huyện Q được Sở tài nguyên và môi trường Tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số: DA 326529 ngày 30/03/2021 mang tên ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2.

Về phía bị đơn ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2 trình bày tại phiên tòa như sau: các ông, bà thừa nhận ông T1, bà H1 có vay Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Q theo các hợp đồng tín dụng như phía Ngân hàng trình bày. Để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 544, N1 và bà H2 đã dùng tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số: DA 326529, số vào sổ cấp GCN: CS 03582 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp ngày 30/03/2021 thuộc quyền sở hữu của ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2, đã ký kết Hợp đồng thế chấp số 438 ngày 15/10/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số PL01- 438 ngày 02/11/2022. Đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện kéo dài thời gian trả nợ để gia đình tháo gỡ khó khăn, đồng thời xét miễn giảm lãi cho ông T1, bà H1. Ông T1, bà H1 còn đề nghị Ngân hàng đối trừ số tiền mua bảo hiểm tại thời điểm vay vốn vào số tiền còn nợ Ngân hàng để giảm bớt nợ. Đối với HĐTD số 35, ông T1, bà H1 đã trả tất toán hết nên Ngân hàng rút phần yêu cầu này, phía ông T1, bà H1 đồng ý.

Ông Dương Viết T2, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Văn N1 trình bày: Việc ký kết các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp các bên thừa nhận ký kết nên đề nghị Hội đồng xem xét theo pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị làm rõ lý do các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp phải thay đổi, bổ sung ký kết nhiều lần. Đề nghị xem xét N1 và bà H2 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Tại thời điểm ông T1, bà H1 vay vốn tại Ngân hàng B - chi nhánh Q có mua bảo hiểm rủi ro sử dụng vốn. Trong quá trình sử dụng vốn vay để nuôi tôm, gia đình ông T1, bà H1 gặp rủi ro dẫn đến không trả nợ được nên đề nghị xem xét về số tiền bảo hiểm để đối trừ số nợ vay mà Ngân hàng yêu cầu ông T1, bà H1 trả nợ.

Tòa án đã tổ chức các buổi hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, tuy nhiên tại các buổi hòa giải phía bị đơn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải.

Tòa án cũng đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 504 tờ bản đồ số 09 ở thôn T, xã H, huyện Q được Sở tài nguyên và môi trường Tỉnh Q cấp ngày 30/03/2021 cho ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2. Theo Biên bản thẩm định và sơ đồ thẩm định ngày 22/5/2024 thì hiện trạng sử dụng thửa đất trên phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tài sản trên thửa đất có công trình xây dựng gồm 01 ngôi nhà 02 tầng, diện tích 77,5m², nhà bếp diện tích 36,6m², có mái tôn 53,9m², thuộc chủ sở hữu của ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2 đang sử dụng. Có 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 45,2m² không có mái, không cửa, thuộc chủ sở hữu của ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2, hiện không có ai sử dụng. Trên thửa đất không có cây trồng lâu năm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với đương sự: phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị áp dụng các điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, Đề nghị tuyên buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 theo Hợp đồng tín dụng số 544/2022/HĐTD - B3 ngày 02/11/2022.
  • Trường hợp ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC số 438 và HĐSĐBSHĐTC số PL01- 438 ký giữa Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Q và ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2.
  • Đề nghị căn cứ điều 244 BLTTDS, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 theo Hợp đồng tín dụng số 35/2021/HĐTD – B3 21/01/2021, vì ông T1, bà H1 đả trả nợ xong và phía Ngân hàng đã rút yêu cầu khởi kiện này.
  • Đề nghị Tòa án tuyên buộc bị đơn chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP B khởi kiện bị đơn ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Tại phiên tòa các đương sự ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1, ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2 đều có mặt. Ông Ngô Văn H3 vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Ngô Văn H3.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng:

2.1 Nhận thấy ngày 02/11/2022, ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 ký kết HĐTD số 544 để vay vốn tại B2 - Chi nhánh Q, bao gồm 02 khế ước:

  • + Khế ước nhận nợ số 03 ngày 18/04/2023, số tiền: 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn cho vay: 05 tháng kể từ ngày 18/04/2023 đến ngày 18/09/2023. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 11,5 %/Năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn x 150%. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua thức ăn nuôi tôm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • + Khế ước nhận nợ số 04 ngày 05/05/2023, số tiền: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Thời hạn cho vay: 06 tháng kể từ ngày 05/05/2023 đến ngày 05/11/2023. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 12,0 %/Năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn x 150%. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua thức ăn nuôi tôm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trên, ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2 ký kết HĐTC số 438 và HĐSĐBSHĐTC số PL01- 438 với B2 - Chi nhánh Q. Theo đó, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn T, xã H, huyện Q, được Sở tài nguyên và môi trường Tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số: DA 326529 ngày 30/03/2021 mang tên ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2.

Xét các Hợp đồng nêu trên được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp có đăng ký tài sản bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; vì vậy các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực thực hiện kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các điều khoản theo các Hợp đồng này.

Về lãi suất theo Khế ước số 03: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 11,5 %/năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn x 150%. Theo Khế ước số 04: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 12,0 %/năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn x 150%. Lãi chậm trả lãi: 10%/năm. Theo quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng thì các thỏa thuận về lãi suất trên là hợp pháp.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng B2 - Chi nhánh Q đã giải ngân đủ cho ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 tổng số tiền: 1.250.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng) theo các Khế ước số 03, 04. Quá trình trả nợ của ông T1, bà H1 đối với K ước 03: Từ ngày 25/06/2023 quá hạn tiền lãi và ngày 18/09/2023 quá hạn gốc. Đối với Khế ước số 04: ngày 26/6/2023 quá hạn trả lãi và từ ngày 05/11/2023 quá hạn trả tiền gốc, như vậy ông T1, bà H1 đã vi phạm thỏa thuận theo Điều 8- HĐTD số 544. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1, bà H1 trả nợ gốc và lãi là có căn cứ theo thỏa thuận tại Điều 12, 15 của HĐTD số 544 và theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự.

Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng khởi kiện, ngày 15/04/2024, ông T1 bà H1 đã trả được một phần nợ gốc với số tiền 90.500.000 đồng.

Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về buộc ông T1, bà H1 trả nợ tạm tính đến ngày 30/8/2024 tổng số tiền là: 1.395.098.307 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi lăm triệu, không trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm lẻ bảy đồng), cụ thể:

  • Đối với Khế ước 03: Tổng dư nợ: 806.977.676 đồng; trong đó nợ gốc: 659.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 27.410.916 đồng; nợ lãi quá hạn: 117.135.298 đồng; Lãi chậm trả: 2.931.462 đồng.
  • Đối với K ước 04: Tổng dư nợ: 588.120.631 đồng; trong đó nợ gốc: 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 23.122.793 đồng; nợ lãi quá hạn: 63.369.740 đồng; Lãi chậm trả: 1.628.098 đồng.

Và toàn bộ các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 31/8/2024 cho đến ngày ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.

2.2 Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC số 438 và HĐSĐBSHĐTC số PL01- 438 trong trường hợp ông T1, bà H1 không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh theo HĐTD số 544: Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 15 của HĐTD số 544; Điều 6 của HĐTC số 438 để chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 theo HĐTD số 35. Trường hợp ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì buộc ông Ngô Văn H3 thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo HĐTC số 35.

Hội đồng xét xử nhận thấy: đến ngày 15/04/2024, ông T1 bà H1 đã trả nợ, tất toán khoản vay theo hợp đồng HĐTD số 35. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Ngân hàng TMCP B đã rút yêu cầu khởi kiện này. Căn cứ Điều 244 BLTTDS để đình chỉ xét xử.

[4] Đối với ý kiến của bị đơn Ngô Văn T1, bà Trịnh Thị H1 và Luật sư Dương Viết T2 về việc xem xét đối trừ số tiền bảo hiểm do ông T1, bà H1 mua tại thời điểm vay vốn để giảm bớt số nợ mà phía Ngân hàng yêu cầu trả nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy: trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông T1, bà H1, ông N1, bà H2 mặc dù có 01 lần đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng không chịu viết bản tự khai, không tham gia các phiên họp công khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải, không ký biên bản, không nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì. Tại phiên tòa sơ thẩm lần này ông T1, bà H1 đưa ra yêu cầu xem xét đối trừ nghĩa vụ là vượt quá yêu cầu ban đầu. Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự, thời điểm bị đơn đưa ra yêu phản tố phải trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai, chứng cứ và hòa giải. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận xem xét đối với ý kiến về đối trừ số tiền bảo hiểm mà bị đơn yêu cầu.

[5] Về chí phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí, nên cần buộc ông T1, bà H1 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

[7]Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 773 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 357, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (B1). Buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B theo Hợp đồng tín dụng số 544/2022/HĐTD - B3 ký ngày 02/11/2022, tạm tính đến ngày 30/8/2024 tổng số tiền là: 1.395.098.307 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi lăm triệu, không trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm lẻ bảy đồng), trong đó:
    • Dư nợ của Khế ước nhận nợ số: 03 - 544/2022/HĐTD – B3 ngày 18/04/2023 với tổng số tiền: 806.977.676 đồng (Nợ gốc: 659.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 27.410.916 đồng; nợ lãi quá hạn: 117.135.298 đồng; Lãi chậm trả: 2.931.462 đồng.
    • Dư nợ của Khế ước nhận nợ số: 04 - 544/2022/HĐTD – B3 ngày 05/05/2023 với tổng số tiền: 588.120.631 đồng; trong đó nợ gốc: 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 23.122.793 đồng; nợ lãi quá hạn: 63.369.740 đồng; Lãi chậm trả: 1.628.098 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 30/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 544/2022/HĐTD – B3 ngày 02/11/2022, bao gồm 02 khế ước: Khế ước nhận nợ số: 03 – 544/2022/HĐTD – B3 ngày 18/04/2023 và Khế ước nhận nợ số: 04 - 544/2022/HĐTD – B3 ngày 05/05/2023 được ký kết giữa giữa B1 - Chi nhánh Q với ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1.

  2. Trong trường hợp ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 504 tờ bản đồ số 09 ở thôn T, xã H, huyện Q, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số: DA 326529, số vào sổ cấp GCN: CS 03582 ngày 30/03/2021 mang tên ông Ngô Văn N1 và bà Mai Thị H2; theo Hợp đồng thế chấp số 438/2021/HĐTC/BacABank.500 ngày 15/10/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số PL01 - 438/2020/HĐTC/BacABank.500 ngày 02/11/2022, được ký kết giữa Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Q và ông Ngô Văn N1 và Bà Mai Thị H2.
  3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B theo Hợp đồng tín dụng số 35/2021/HĐTD – B3 ngày 21/01/2021, bao gồm 01 khế ước nhận nợ số: 01- 35/21/HĐTD – B3 ký ngày 21/01/2021 và yêu cầu buộc ông Ngô Văn H3 thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 35/2021/HĐTC/BacABank.500 ngày 21/01/2021.
  4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  5. Về án phí Dân sự sơ thẩm:
    • - Buộc ông Ngô Văn T1 và bà Trịnh Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 53.852.949 đồng (Năm mươi ba triệu, một trăm ba mươi hai nghìn, không trăm hai mươi ba đồng).
    • - Ngân hàng Thương mại Cổ phần B được nhận lại số tiền 13.869.000 đồng (Mười ba triệu, tám trăm sáu mươi chín nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003792 ngày 13/3/2024.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30/8/2024; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 33/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Bắc Á khởi kiện yêu cầu Ngô Văn Tuyển, Trịnh Thị Hương trả nợ theo hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger