Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-7-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Phương Trang và ông Lê Thanh Khảnh;

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Lê Ngọc Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2024/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Lương Thị Q, sinh năm 1988; địa chỉ đăng ký thường trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; hiện cư trú tại: khu phố Đ, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2024 và tài liệu có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Lương Thị Q trình bày:

Về hôn nhân: Chị Q và anh T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2009, đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện Đ (nay là UBND phường H, thị xã Đ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 05/01/2009. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, đến năm 2023, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống; anh T hay ăn nhậu, chửi bới đánh đập chị Q, hai bên thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã; hai vợ chồng cũng cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị Q thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Q yêu cầu ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Q yêu cầu giao cháu Nguyễn Lương N, sinh ngày 20/8/2009 và cháu Nguyễn Lương Trà M, sinh ngày 28/12/2011 cho anh Nguyễn Văn T nuôi dưỡng, chị Q không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu toà giải quyết.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Theo tài liệu có tại hồ sơ, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh T và chị Q tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2009, đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện Đ (nay là UBND phường H, thị xã Đ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 05/01/2009. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Q bài bạc, có tình cảm với người đàn ông khác. Tuy nhiên, anh T vẫn còn tình cảm yêu thương vợ con nên anh T không đồng ý ly hôn với chị Q.

Về con chung: Trong trường hợp Toà án cho anh T và chị Q ly hôn, anh T yêu cầu tiếp tục được nuôi cháu Nguyễn Lương N, sinh ngày 20/8/2009 và cháu Nguyễn Lương Trà M, sinh ngày 28/12/2011, không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn anh T. Về con chung: trường hợp con có nguyện vọng ở với chị thì chị Q đồng ý nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lương Trà M, nếu cháu M có nguyện vọng ở với anh T thì chị đồng ý và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; thuận tình ly hôn chị Q, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung (cháu Nguyễn Lương N và Nguyễn Lương Trà M), không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Q. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Q và anh Nguyễn Văn T; về con chung: tiếp tục giao 02 con chung là cháu Nguyễn Lương N, sinh ngày 20/8/2009 và cháu Nguyễn Lương Trà M, sinh ngày 28/12/2011 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không xem xét. Về án phí: Vì thuận tình ly hôn nên chị Lương Thị Q và anh Nguyễn Văn T mỗi người phải chịu 50% án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự; Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Lương Thị Q khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T và giải quyết các vấn đề về con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Lương Thị Q và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 05/01/2009 tại UBND thị trấn (nay là phường) Hòa Hiệp T1, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Tại Biên bản xác minh ngày 05/7/2024, UBND phường H cung cấp: “cuộc sống hàng ngày của vợ chồng chị Lương Thị Q, anh Nguyễn Văn T có xảy ra mâu thuẫn cãi vã. Hiện nay, anh T và chị Q không còn sống chung với nhau nữa”. Điều này phù hợp theo như lời trình bày của 02 cháu Nguyễn Lương N, Nguyễn Lương Trà M “cha mẹ (anh T, chị Q) thường xuyên cãi vã; mẹ có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác; mẹ đã bỏ về nhà ông bà ngoại từ đầu năm 2024 sống cho đến nay”.

[2.3] Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Q và anh T đã trầm trọng, chị Q và anh T không còn sống chung với nhau từ tháng 3/2024; quá trình giải quyết, toà án đã hoà giải nhưng mâu thuẫn giữa anh T, chị Q không thể hàn gắn để đoàn tụ. Tại phần tranh luận, anh T đồng ý thuận tình ly hôn theo yêu cầu của chị Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của anh T; chị Lương Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

[3] Về con chung: Chị Q và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Lương N, sinh ngày 20/8/2009 và cháu Nguyễn Lương Trà M, sinh ngày 28/12/2011. Quá trình giải quyết, chị Q yêu cầu giao cháu Nguyễn Lương N, sinh ngày 20/8/2009 và cháu Nguyễn Lương Trà M, sinh ngày 28/12/2011 cho anh Nguyễn Văn T nuôi dưỡng, chị Q không cấp dưỡng nuôi con. Tuy cháu M có đơn xin có nguyện vọng ở với mẹ, nhưng tại phiên toà cháu M có ý kiến “cháu hiện tại đang ở với bố và có nguyện vọng được ở cùng với cha mẹ, nếu được tiếp tục ở với cha thì cháu đồng ý”. Tại phiên toà, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con; cháu N mong muốn được ở với cha (anh T), cháu M hiện đang ở cùng với cháu N và anh T; chị Q đồng ý để cháu M tiếp tục ở với anh T. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh thần cho cháu M, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với nguyện vọng của cháu M, cũng như ý kiến của anh T và chị Q, tiếp tục giao cháu M cho anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: anh T cho rằng có mức thu nhập 40.000.000đ – 50.000.000đ/tháng, nên anh T không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, anh T có thu nhập cao và việc anh T không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không có cơ sở xem xét.

[6] Về án phí: Vì anh T thuận tình ly hôn với chị Q nên các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 19, 51, 55, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Q về việc xin ly hôn anh Nguyễn Văn T.

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lương Thị Q và anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: giao 02 con chung - cháu Nguyễn Lương N (sinh ngày 20/8/2009) và cháu Nguyễn Lương Trà M (sinh ngày 28/12/2011) cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Lương Thị Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lương Thị Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung

3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: chị Lương Thị Q và anh Nguyễn Văn T mỗi người phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Lương Thị Q được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ theo Biên lai tạm ứng án phí số 0003205 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, nên hoàn lại cho chị Q số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Duyên

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thuận tình ly hôn tại phiên toà
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger