Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/5/2024

Về “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Võ Kim Ngân

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước Lộc
  2. Ông Dương Tấn Đấu

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung – Thư ký Toà án thành phố Phú Quốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc: Ông Nguyễn Văn Trung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 302/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06/11/2023, về: "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm N, sinh năm 1980

Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1974

Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

(Bà N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông K vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn xin ly hôn ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm N trình bày: Bà N và ông Huỳnh Văn K tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 1997 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang ngày 03/10/2003, số 38 – quyển 01/2003. Sau một thời gian chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng kéo dài do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau; vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về kinh tế của gia đình; đồng thời do ông K không quan tâm chăm sóc vợ con mà ngược lại còn thường xuyên ăn nhậu say sỉn về nhà chửi mắng vợ con.

Nay bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và xét mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng gia đình thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, bà N không còn thương yêu ông K nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông K.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có với nhau 03 người con chung là Huỳnh Mỹ Đ, sinh năm 1998; Huỳnh Châu P, sinh năm 2000 và Huỳnh Thùy Trang Triệu V, sinh năm 2005. Khi ly hôn cả 03 người con chung đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn ông Huỳnh Văn K được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được; Toà tiến hành lập biên bản không hoà giải và không công khai chứng cứ được.

3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc có ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của BLTTDS. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của bà Phạm Thị Cẩm N về việc xin ly hôn với ông Huỳnh Văn K là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hôn nhân giữa bà N và ông K là hợp pháp có đăng ký kết hôn, được pháp luật thừa nhận, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được. Căn cứ Điều 9, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N. Về con chung: 03 người con chung đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), đề nghị miễn xét. Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Cẩm N xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, đề nghị miễn xét. Về công nợ chung: Bà Phạm Thị Cẩm N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] . Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà Phạm Thị Cẩm N.

Bị đơn ông Huỳnh Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng cả 02 làn đều vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt liên tục không có lý do chính đáng của bị đơn nhằm gây khó khăn cho nguyên đơn, kéo dài việc giải quyết vụ án. Sau khi làm đầy đủ thủ tục tố tụng, căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn K.

[2]. Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm N và ông Huỳnh Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang ngày 03/10/2003 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Cẩm N xác định: Khả năng đoàn tụ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà N giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông K. Đồng thời qua xác minh tại gia đình của ông K và bà N thì việc mâu thuẫn vợ chồng là có thật, vợ chồng ông bà đã bất hòa với nhau từ nhiều năm nay. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Cẩm N với ông Huỳnh Văn K.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông K có với nhau 03 người con chung là Huỳnh Mỹ Đ, sinh năm 1998; Huỳnh Châu P, sinh năm 2000 và Huỳnh Thùy Trang Triệu V, sinh năm 2005. Khi ly hôn cả 03 người con chung đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Cẩm N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Về công nợ chung: Bà Phạm Thị Cẩm N xác định không có công nợ chung, nên không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Phạm Thị Cẩm N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 9, 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm N được ly hôn với ông Huỳnh Văn K.

2. Về con chung: 03 người con chung là Huỳnh Mỹ Đ, sinh năm 1998; Huỳnh Châu P, sinh năm 2000 và Huỳnh Thùy Trang Triệu V, sinh năm 2005 đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Cẩm N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về công nợ chung: Bà Phạm Thị Cẩm N xác định không có công nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Bà Phạm Thị Cẩm N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0009558 ngày 12/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, bà N không phải nộp thêm.

Ông Huỳnh Văn K không phải nộp án phí sơ thẩm.

6. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết tại địa phương nơi cư trú để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger