Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-PT
Ngày: 29 - 11 - 2023
V/v “Tranh chấp về chia tài sản và nợ
sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền

Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế

Ông Hồ Minh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 30/2023/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về chia tài sản và nợ sau khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 66 /2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/2023/QĐXX-PT ngày 27 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Thanh P, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tăng Tấn L là Luật sư ký hợp đồng thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp X, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  2. Ông Phan Văn T1, sinh năm 1953; Thường trú: Khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Tạm trú: Áp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  3. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1971
  4. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1983

Cùng địa chỉ: ấp X, xã Q, huyện Đ, Cà Mau.

  1. Bà Trịnh Thị D (Đã chết ngày 16/5/2023)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trịnh Thị D:

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1949

Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1971

Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1973

Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1980

Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1983

Nguyễn Văn L2, sinh năm 1987

Cùng địa chỉ: ấp X, xã Q, huyện Đ, Cà Mau.

Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

  1. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp X, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  2. Ủy ban nhân dân xã H, huyện N; Địa chỉ trụ sở: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  3. Ngân hàng C1; Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà C - Bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thế H – Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện N.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt ông G, những đương sự khác vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Phan Thanh P, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Phan Thanh P trình bày:

Ông Phan Thanh P và bà Nguyễn Thị T thuận tình ly hôn tại Quyết định số: 105/2021/QÐST-HNGĐ ngày 26/7/2021 của TAND huyện Năm Căn; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do không thỏa thuận được phân chia tài sản và nợ chung nên yêu cầu Tòa án giải quyết cụ thể như sau:

- Về tài sản: 01 nền nhà và căn nhà tiền chế tọa lạc tại ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Về nguồn gốc đất là của Ủy ban nhân dân (UBND) xã H chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trường G (cột chèo với ông P) qua lời giới thiệu của bà Lê Thanh N (hiện không biết địa chỉ), ông G đứng tên nhận chuyển nhượng 02 nền diện tích 180m² (ngang 09m, dài 20m). Trong đó, phần ông G 01 nền, ông PT 01 nền ngang 4,5m, dài 20m, diện tích 90m².

- Về nợ:

+ Nợ Ngân hàng C1 chi nhánh huyện N 70.000.000 đồng, mục đích vay xóa nghèo và vay nguồn nước sạch.

+ Mượn của ông Phan Văn T1 (cha ruột ông P) 20.000.000 đồng khoảng 10 năm nay, mượn nhiều lần để mua đồ sửa chữa điện tử.

Ông P khởi kiện yêu cầu chia đôi số tài sản và nợ nói trên. Tại phiên tòa sơ thẩm ông P yêu cầu phân chia 01 nền nhà, ông nhận đất và giao ½ giá trị cho bà T; yêu cầu chia đôi số nợ chung của Ngân hàng C1. Ông rút lại yêu cầu phân chia căn nhà và chia đối số nợ trả cho ông T1.

Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà và ông Phan Thanh P tổ chức lễ kết hôn vào ngày 21/02/2006 âl (ngày 20/3/2006dl), do mâu thuẫn nên ông bà đã thuận tình ly hôn tại TAND huyện Năm Căn như ông P trình bày là đúng. Đối với việc ông P yêu cầu phân chia tài sản, nợ bà không đồng ý, lý do:

- Đối với 01 nền nhà tọa lạc tại Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau là của em rể tên Nguyễn Trường G sang nhượng của UBND xã H qua giới thiệu của bà Lê Thanh N hiện không biết địa chỉ, không phải tài sản của bà và ông P. Khoảng năm 2010 bà và ông P mượn của ông G 01 nền đất ngang 4,5m, dài 20m để cất 01 căn nhà cây gỗ địa phương, nền sàn bằng bê tông cốt thép, khi mượn không có làm giấy tờ. Khi cất nhà thì bà và ông P thuộc hộ nghèo nên Nhà nước cho 5.000.000 đồng, mượn mẹ ruột 35.000.000 đồng để có chi phí xây dựng nhà, xây dựng xong căn nhà năm 2010 thì thoát nghèo. Nay bà yêu cầu được nhận nhà và giao ½ giá trị cho ông P.

- Về nợ: Bà xác định bà và ông P có vay Ngân hàng C1 chi nhánh huyện N 01 lần 50.000.000 đồng tiền thoát nghèo và đồng ý trả; việc ông P vay lần sau 20.000.000 đồng và mượn tiền của ông T1 thì bà không biết, không có sử dụng số tiền này nên không đồng ý trả nợ.

Ngoài ra, quá trình chung sống với ông P thì có mượn của người chị ruột thứ 2 tên Nguyễn Thị Đ số tiền 4.000.000 đồng, mượn của người em ruột thứ 6 tên Nguyễn Thị L1 số tiền 3.800.000 đồng, nợ em rễ tên Nguyễn Trường G và vợ là Nguyễn Thị P1 số tiền khoảng 3.000.000 đồng, mượn của mẹ ruột tên Trịnh Thị D 35.000.000 đồng để cất nhà nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trường G trình bày: Về nguồn gốc đất ông P yêu cầu chia là của ông nhận sang nhượng từ UBND xã H vào ngày 15/01/2005 với giá 50.000.000 đồng, diện tích 180m² ngang 09m, dài 20m (02 nền), có giấy tờ mua bán, hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó qua môi giới là bà N số tiền 14.000.000 đồng, nộp cho UBND xã H 36.000.000 đồng. Ông đã đăng nộp cho U và còn nợ lại hơn 10.000.000 đồng. Thời gian sau ông chuyển nhượng cho ông Trịnh Đăng T3 01 nền. Còn lại 01 nền cho ông P và bà T mượn cất nhà để ở vào năm 2009 – 2010. Khi cho mượn không làm giấy tờ, cũng không quy định khi nào trả lại đất. Nay ông xác định nền đất này là của ông nên không được phân chia và không kiện đòi lại, không yêu cầu di dời nhà đi nơi khác nhưng nhà chỉ đồng ý cho bà T ở trên đất. Về số nợ bà T khai nợ ông số tiền khoảng 3.000.000 đồng, nay không kiện đòi lại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P1 trình bày:

Đối với 01 nền nhà ông P đòi chia là của bà và ông G nhận sang nhượng của UBND xã H qua giới thiệu của bà N. Vợ chồng bà chỉ có quản lý phiếu thu tiền 3.000.000 đồng ngày 18/3/2005 và của Nguyễn Thị T 4.600.000 đồng vào ngày 06/01/2006, nội dung thu là đóng góp cho Ngân sách nhà nước; còn 03 phiếu thu còn lại khi sang nhượng đất cho ông Trịnh Đăng T3 thì giao luôn cho ông T3 quản lý 03 phiếu thu.

Về số nợ bà T khai nợ bà 3.000.000 đồng là có, do người dân họ mua cua giống của vợ chồng bà, sau đó họ trả cho vợ chồng bà T nhận giùm, khi tới nước xuống lấy tiền thì ông P nói kẹt tiền rồi lấy xài luôn, bà thấy vợ chồng bà T cũng khó khăn nên không đòi lại.

Đại diện Ủy ban nhân dân xã H trình bày:

Phần đất ông Phan Thanh P yêu cầu phân chia thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 11 (bản đồ năm 2003) là đất do UBND xã H quản lý đứng tên kê khai. Về nguồn gốc đất: Theo chủ trương của UBND xã vào năm 2005 tiến hành bàn giao đất lần đầu cho ông Nguyễn Trường G ngang 09m, dài 20m – Theo biên bản bàn giao cột mốc ranh giới thửa đất ngày 15/01/2005 và theo các phiếu thu ông G quản lý đã đóng góp cho ngân sách nhà nước. Nay UBND xã H xác định phần đất này là giao cho ông G ngang 09m, dài 20m vào năm 2005, không phải của UBND xã quản lý và phần đất này đã bàn giao cho người dân quản lý.

Tại Kết luận thanh tra số 02/KL-UBND ngày 28/02/2022 của UBND huyện N kết luận trước đây UBND xã H bàn giao cột mốc cho ông Nguyễn Trường G là không đúng thẩm quyền và hướng xử lý cho ông G được kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2013.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T1 trình bày:

Trước đây khoảng 10 năm ông làm nghề tải hàng từ thành phố Hồ Chí Minh về Cà Mau, lúc này ông P có ghi toa nhờ mua dùm các linh kiện sửa chữa điện tử nhiều lần, ông mua dùm khoảng hơn 20 triệu đồng nhưng sau đó kết sổ lại là 20.000.000 đồng. Ông T1 khởi kiện độc lập yêu cầu ông Phan Thanh P và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả lại cho ông 20.000.000 đồng. Nay tại phiên tòa ông tự nguyện xin rút lại yêu cầu này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C1 và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Yêu cầu ông Phan Thanh P và bà Nguyễn Thị T thanh toán số nợ 78.262.508 đồng (trong đó nợ gốc 70.000.000 đồng và nợ lãi 8.262.508 đồng tính đến ngày 28/7/2023). Ông Phan Thanh P là người đại diện đứng tên vay. Nay ông P và bà T ly hôn thì việc sử dụng đồng vốn tín dụng chính sách không còn đúng mục đích, hiệu quả khi xin vay.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 66/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông P yêu cầu chia đôi số nợ của Ngân hàng C1 và chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng C1 đòi nợ đối với ông P và bà T tổng số tiền vốn và lãi bằng 78.262.508 đồng.

Buộc ông Phan Thanh P và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả lại cho Ngân hàng C1 tổng số tiền vốn và lãi bằng 78.262.508 đồng (bao gồm: nợ gốc 70.000.000 đồng và nợ lãi 8.262.508 đồng tính đến ngày 28/7/2023), trong đó ông P và bà T mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng ½ bằng 39.131.254 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh P yêu cầu chia diện tích đất 89,6m² thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính thành lập năm 2003) do UBND xã H đứng tên kê khai, đất tọa lạc ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh P yêu cầu chia đôi 02 căn nhà cây gỗ địa phương trị giá 48.299.000 đồng và yêu cầu chia đôi số nợ của ông Phan Văn T1 là 20.000.000 đồng.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Phan Văn T1 yêu cầu ông P và bà T hoàn trả 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, lãi suất chậm thanh toán, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 11/8/2023, nguyên đơn ông Phan Thanh P kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng phần đất 89,6m², thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 11 tại ấp E, xã H, huyện N là tài sản chung của Nguyễn Thanh P2Nguyễn Thị T, ông P2 nhận đất giao cho bà T ½ giá trị.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn, ông P2 trình bày: giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng phần đất cất nhà là tài sản chung, ông P2 nhận nhà, đất và giao bà T ½ giá trị, từ khi ly hôn bà T không ở căn nhà mà ông P2 ở, đối với căn nhà ông có thể giao cho bà T nguyên giá trị theo định giá xem như ông tặng cho thêm các con; ông P2 bị khuyết tật ở chân đi lại khó khăn, căn nhà là nơi để ông ở và làm nghề sửa điện tử để sinh sống.

Đối với phần đất, ngang 09m, vợ chồng P2G mỗi người mua ½ diện tích thì nhờ G đứng tên cho cả 09m ngang để thuận tiện khi UBND xã giao cột mốc, nhưng phần đất vợ chồng P2 nhận và cất nhà ở ổn định từ năm 2006.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Căn cứ kháng cáo: Theo kết luận thanh tra, chủ tịch UBND xã giao cột mốc đất cho ông G là không đúng thẩm quyền cho nên ông G căn cứ vào việc UBND xã giao cột mốc để xác nhận phần đất của ông G là không đúng pháp luật; vợ chồng P2 quản lý, cất nhà ở ổn định từ năm 2006 đến nay; biên bản xác minh bà T khai nhờ em rể là G đứng tên mua dùm đất; bà T đứng tên đóng tiền mua nền nhà và bà T giao nộp hai biên lai thu tiền (01 biên lai G đứng tên 3.000.000 đồng, 01 biên lai Thà đứng tên 4.600.000 đồng) vấn đề này phù hợp với thực tế là biên lai của phần đất bán cho ông T3 thì ông G giao ông T3 quản lý, biên lai thu tiền của phần đất vợ chồng ông P2 thì bà T quản lý; giấy sang bán nền nhà cho ông T3 do chính ông G viết ghi rõ tứ cận có thể hiện liền kề giáp đất ông P2.

- Bị đơn, bà T trình bày: Đồng ý với quyết định của án sơ thẩm;

Yêu cầu được nhận ½ giá trị căn nhà, không nhận đất. Đất ông G cho mượn cất nhà, vợ chồng cất nhà năm nào bà không nhớ, bà cũng không nhớ có lời khai là nhờ ông G đứng tên mua đất.

- Ông G trình bày: Không đồng ý kháng cáo của ông P2; ông không có chứng cứ chứng minh việc cho mượn đất, nhưng phần đất ông nhận từ UBND xã thông qua môi giới bà N; trong vụ án này ông G không có yêu cầu độc lập, ông không khởi kiện liên quan đến phần đất; thời điểm năm 2005 ông không quen biết ông P2, ông có gửi tiền nhờ bà T nộp cho UBND xã; giấy sang bán nền nhà cho ông T3 ghi liền kề đất ông P2 là do ông P2 đang ở trên phần đất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận sự tự nguyện của ông P2 giao cho bà T toàn bộ giá trị căn nhà theo định giá; không chấp nhận kháng cáo của ông P2 về phần nền nhà là tài sản chung của vợ chồng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của ông Phan Thanh P thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xem xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn Phan Thanh P, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận phần đất cất nhà là tài sản chung và ông P nhận nhà đất, giao cho bà T ½ giá trị

Hồ sơ vụ án thể hiện: Phần đất các đương sự tranh chấp có diện tích 89,6m² tại ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất thuộc thửa số 05, tờ bản đồ 11 (bản đồ lập năm 2003) do UBND xã H đứng tên kê khai và UBND xã lập biên bản giao cộc mốc cho ông G năm 2005. Ông P xác định phần đất cất nhà là tài sản chung của ông PT, vợ chồng nhờ ông G đứng tên để thuận tiện liên hệ với UBND xã (vì ông G cán bộ điện lực xã); bà T và ông G xác nhận nền nhà của ông G cho ông P, bà T mượn cất nhà. Lời trình bày của ông P được thể hiện ở các chứng cứ:

- Ngày 06/01/2006, U1 4.600.000 đồng của bà Nguyễn Thị T, lý do nộp: “nộp tiền nền nhà”, như vậy ông P khai vợ chồng nộp tiền tại UBND xã để mua nền nhà là có thật. Và theo như ông P xác nhận còn nợ UBND một khoản tiền mua nền nhà nhưng bao nhiêu không xác định được, vì từ năm 2005 UBND huyện

thanh tra tại UBND xã H liên quan đến việc giao đất nên UBND xã không thu hồi tiền người dân còn nợ.

- Hồ sơ vụ án thể hiện UBND xã thu tiền từ ông Nguyễn Trường G 3.000.000 đồng ngày 18/3/2005 và thu 10.500.000 đồng ngày 26/7/2005, nội dung “đóng góp ngân sách”. Theo như lời khai của ông Phong hóa đ 10.500.000 đồng là ông G đóng tiền cho phần đất của ông G, còn hóa đơn 3.000.000 đồng ông G đóng dùm cho vợ chồng P. Lời khai của ông P phù hợp với thực tế, bởi vì khi Đoàn thanh tra huyện làm việc thì bà T trực tiếp giao nộp hai biên lai đóng tiền nền nhà 3.000.000 đồng và 4.600.000 đồng; còn hóa đơn của ông G đã giao hết cho ông Thường khi G bán nền nhà.

- Trên thực tế, sau khi nhận đất thì ông G và vợ chồng P đều cất nhà trên diện tích đất của mình (mỗi nền nhà có chiều ngang 4,5m). Sau khi cất nhà P, T ở ổn định cho đến nay, còn phần đất ông G cất nhà thì vào năm 2011 ông G đã sang bán cho ông Trịnh Văn T4. “Tờ sang nhượng đất nhà ở” lập ngày 20/6/2011, có nội dung ông G sang nhượng cho ông T4 ngang 4,5m dài 20m, ghi rõ tứ cận: “...từ lộ xuống sông và căn nhà này Đ1 giáp ông Nguyễn Thành T5, Tây giáp ông Trần Văn T6 và liền kề ông Phan Thanh P...; giấy sang nhượng do chính ông G viết và ông G xác nhận rõ tứ cận, thể hiện đất bán cho ông T4 liền kề giáp đất Phan Thanh P. Nếu như nền nhà của ông G thì tại sao khi viết giấy sang bán nhà đất cho ông T4 không ghi đất liền kề ông G mà lại ghi liền kề đất ông Phan Thanh P.

- Biên bản xác minh ngày 04/11/2021 của Đoàn Thanh tra (Bút lục 209) liên quan đến phần đất đang tranh chấp thì bà T trình bày nhờ ông G là em rể mua dùm nền nhà.

- Theo ông G, căn cứ để xác định phần đất là tài sản của ông G đó là ông G được Chủ tịch UBND xã giao cột mốc; nhưng tại bút lục 200 thể hiện: Chủ tịch UBND xã H giai đoạn 2003 – 2006 ký biên bản bàn giao 03/16 thửa đất không đúng thẩm quyền. Xét về thực tế, từ thời điểm UBND xã bàn giao cột mốc thì ông G không có quản lý, sử dụng phần đất mà theo ông G cho vợ chồng P mượn đất, chứng tỏ ông G không có nhu cầu sử dụng đất. Trong khi đó, từ năm 2005 đến nay gần 20 năm ông PThà 1 người quản lý, sử dụng phần đất cất nhà ở ổn định. Ông G khai cho mượn nền nhà nhưng không có văn bản, giấy tờ nào thể hiện việc ông G cho mượn nền nhà.

Với phân tích trên, phần đất thuộc thửa số 05, tờ bản đồ 11 (bản đồ lập năm 2003) mà P, T cất nhà ở không thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Trường G; có căn cứ xác nhận nền nhà P đang quản lý, sử dụng là tài sản chung của Phan Thanh PNguyễn Thị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T không có yêu cầu nhận đất; xét hoàn cảnh ông P là người khuyết tật, đi lại khó khăn, cần có nơi ở nên tạm giao phần đất cho P

quản lý, sử dụng; đương sự đồng ý nếu được nhận đất sẽ thực hiện đúng theo chủ trương của cấp có thẩm quyền liên quan đến phần đất.

Ông P có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà T ½ giá trị quyền sử dụng đất bằng 174.720.000 đồng. Trường hợp chậm giao tiền phải chịu lãi suất theo quy định pháp luật.

[3] Đối với căn nhà cất trên phần đất theo kết quả định giá 48.299.000 đồng, tại phiên tòa phúc thẩm bà T yêu cầu nhận ½ giá trị, ông P đồng ý và ý kiến có thể giao cho bà T nguyên giá trị căn nhà; tuy nhiên, liên quan đến căn nhà, bản án sơ thẩm đã quyết định đình chỉ giải quyết do ông P rút yêu cầu về chia căn nhà, cho nên cấp phúc thẩm không thể ghi nhận sự thỏa thuận của hai đương sự; ông P, bà T có quyền tự thỏa thuận với nhau về căn nhà, trường hợp không tự thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện theo quy định pháp luật.

[4] Từ nhận định trên, tại cấp phúc thẩm nguyên đơn cung cấp chứng cứ mới là một số văn bản liên quan đến phần đất để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Phan Thanh P liên quan đến phần đất, không chấp nhận kháng cáo liên quan đến căn nhà; sửa một phần bản án sơ thẩm.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm; Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm với những nội dung nhận định trên.

[6] Về án phí

- Án phí sơ thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên án phí dân sự có giá ngạch thay đổi; ông P được miễn, bà T phải chịu 1.956.562 đồng (trả nợ) + 8.736.000 đồng (chia tài sản) = 10.692.562 đồng

- Án phí phúc thẩm ông P được miễn.

[7] Chi phí tố tụng ông P đồng ý chịu, đã nộp đủ.

[8] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Phan Thanh P về yêu cầu phần đất là tài sản chung; không chấp nhận kháng cáo của ông P về chia căn nhà; sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 66/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh P
  • - Diện tích đất 89,6m² thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính thành lập năm 2003) do UBND xã H đứng tên kê khai, tọa lạc Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau là tài sản chung của ông Phan Thanh P và bà Nguyễn Thị T.
  • Tạm giao cho ông Phan Thanh P quản lý và sử dụng phần đất theo đúng quy định pháp luật.
  • - Ông Phan Thanh P có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T ½ giá trị quyền sử dụng đất bằng 174.720.000 đồng.
  • Trường hợp ông P chậm thanh toán phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh P về yêu cầu chia đôi căn nhà cây gỗ địa phương trị giá 48.299.000 đồng và yêu cầu chia đôi số nợ của ông Phan Văn T1 là 20.000.000 đồng.
  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Phan Văn T1 yêu cầu ông P và bà T hoàn trả 20.000.000 đồng.
  • - Buộc ông Phan Thanh P và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng C1 – phòng giao dịch huyện N tổng số tiền vay vốn và lãi bằng 78.262.508 đồng (bao gồm: nợ gốc 70.000.000 đồng và nợ lãi 8.262.508 đồng tính đến ngày 28/7/2023), trong đó ông P và bà T mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng ½ bằng 39.131.254 đồng.
  • Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày ban hành bản án, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày ban hành bản án khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  1. Về chi phí tố tụng: Ông P đã nộp đủ.
  2. Về án phí
  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Thanh P được miễn; bà Nguyễn Thị T phải chịu 10.692.562 đồng.
  • - Án phí phúc thẩm: Ông P được miễn.
  1. Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hiền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Quang Thế - Hồ Minh Tấn

Nguyễn Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2023/HNGĐ-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp về chia tài sản và nợ sau khi ly hôn

  • Số bản án: 33/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản và nợ sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo về chia tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger