Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Thảo

Ông Lý Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ưu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia

phiên tòa: Ông Ma Thế Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 23/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 14/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ma Thanh T (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 08/3/2001; N sinh: Huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ma Văn K, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/4/2024 đến ngày 09/4/2024 thì được tại ngoại.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nông Văn S, sinh năm 1984, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Bà Chu Thị B, sinh năm 1965 - Người chứng kiến.

- Anh Ma Thế L, sinh năm 1990 - Người chứng kiến.

Cùng địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 01/4/2024, tổ công tác của Cơ quan Công an huyện B đang làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu B, thị trấn C, huyện B thì phát hiện Ma Thanh T, sinh năm 2001, địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 97F5-6864 đi từ thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn theo hướng về tỉnh Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã dừng xe, tiến hành kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Ma Thanh T có 01 (Một) gói nhỏ được gói bằng giấy trắng (dạng giấy vệ sinh), bên trong có 01 (Một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại một mặt màu vàng, một mặt màu trắng chứa chất dạng cục, bột màu trắng. Ma Thanh T khai nhận, chất dạng cục, bột màu trắng trong gói là H được T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói nhỏ nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu T1.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Thoát 01 (Một) chiếc xi lanh (Bơm kim tiêm) và 01 (Một) lọ nước cất đều chưa qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu T2; thu giữ tại túi áo bên ngoài trước ngực trái đang mặc của Thoát 01 (Một) chiếc điện thoại di động có bàn phím, màu đen, phía sau có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu T3; thu giữ 01 (Một) xe mô tô BKS 97F5-6864 dán nhãn HONDA DREAM màu trắng, tím, đen, xe cũ đã qua sử dụng. Ma Thanh T tự nguyện giao nộp 01 (Một) vật chứng là quần vải (dạng quần nỉ), quần dài, màu xám đen, T dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang, quần cũ đã qua sử dụng.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng nghi là chất ma túy ngày 01/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xác định: Gói bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 thu giữ của Ma Thanh T cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,17g (Không phẩy một bảy gam). Niêm phong toàn bộ 0,17g (Không phẩy một bảy gam) chất dạng cục, bột màu trắng vào phong bì ký hiệu C1 để gửi giám định. Niêm phong toàn bộ phong bì, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu C2.

Trên cơ sở đó, vào hồi 07 giờ 00 phút ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan tại chỗ ở của Ma Thanh T tại xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng, kết quả không phát hiện và thu giữ thêm tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến hành vi vi phạm của T.

Tại bản Kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C1 có khối lượng là 0,17g (Không phẩy một bảy gam)”.

Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu C1 còn lại 0,12g (Không phẩy một hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T75 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Tại giai đoạn điều tra, truy tố Ma Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, số tiền dùng để mua ma túy, số lượng ma túy đã mua và tàng trữ, cụ thể: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/4/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Ma Thanh T đã mượn xe mô tô BKS 97F5-6864 dán nhãn HONDA DREAM của anh Nông Văn S, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng rồi điều khiển xe đi đến thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy. Khi xuống đến thị trấn C, huyện B, T điều khiển xe đi lòng vòng quanh thị trấn thì gặp một người đàn ông lạ mặt, không quen biết nhìn giống người nghiện ma túy tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B nên T đã dừng xe vào nói chuyện và hỏi mua được 01 (Một) gói ma túy với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy T đi vào chỗ vắng gần đó trích ra một ít để sử dụng, số còn lại chưa dùng hết Thoát gói lại và cất giấu trong túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài để điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đi đến đoạn đường QL279 thuộc tiểu khu B, thị trấn C, huyện B thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang.

Quá trình điều tra còn xác định được Ma Thanh T là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Không có tài liệu chứng minh bản thân hoặc gia đình thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.

Tại cáo trạng số 31/CT-VKSBB ngày 21/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Ma Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

a) ...

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ma Thanh T và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Ma Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Ma Thanh T từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTH: Tịch thu tiêu hủy đối với: 03 (Ba) phong bì niêm phong ký hiệu T75, C2, T2 và 01 (Một) quần vải (dạng quần nỉ), quần dài, màu xám đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo 01 (Một) chiếc điện thoại di động có bàn phím, màu đen, phía sau có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Trả lại cho anh Nông Văn S 01 (Một) xe mô tô BKS 97F5-6864 dán nhãn HONDA DREAM màu trắng, tím, đen, xe cũ đã qua sử dụng.

+ Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn S trình bày: Chiếc xe mô tô BKS 97F5-6864 dán nhãn HONDA DREAM màu trắng, tím, đen, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của anh S. Ngày 01/4/2024 T có hỏi anh S cho mượn chiếc xe mô tô này để sử dụng, anh S đồng ý. Tuy nhiên, cụ thể T mang chiếc xe đi với ai, làm gì thì không nói cho anh S được biết, do đó anh S không biết việc bị cáo T mang xe đi để thực hiện hành vi phạm tội, anh S đề nghị được lấy lại chiếc xe mô tô này.

- Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, không tự bào chữa, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của những người chứng kiến tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:

Vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 01/4/2024 tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Ma Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,17g (Không phẩy một bảy gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Ma Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm Ma Thanh T thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, là nguyên nhân và nguy cơ làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt, trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này thì không có tiền án tiền sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Gồm có:

- 01 (Một) phong bì ký hiệu T75, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu C2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu T2 bên trong có chứa 01 (Một) lọ nước cất và 01 (Một) xi lanh đều chưa qua sử dụng; 01 (Một) chiếc quần vải (dạng quần nỉ), quần dài, màu xám đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng được bị cáo dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang về hành vi phạm tội. Xác định đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động có bàn phím, màu đen, phía sau có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận việc mua ma túy được bị cáo giao dịch trực tiếp với người đàn ông lạ mặt tình cờ gặp trên đường, không hẹn trước, không liên lạc qua điện thoại. Tại biên bản mở niêm phong ngày 03/4/2024 đối với phong bì niêm phong ký hiệu T3 chứa chiếc điện thoại nêu trên tiến hành kiểm tra nội dung cuộc gọi, tin nhắn và các ứng dụng trên điện thoại không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi vi phạm tội của Ma Thanh T. Xác định chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo theo quy định.

- 01 (Một) xe mô tô BKS 97F5-6864 dán nhãn HONDA DREAM màu trắng, tím, đen, xe cũ đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phục vụ cho quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều khai chiếc xe mô tô nói trên là tài sản của anh Nông Văn S, sinh năm 1984, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Ngày 01/4/2024 bị cáo đã hỏi mượn chiếc xe này của anh S để sử dụng, tuy nhiên cụ thể bị cáo lấy xe đi làm gì, với ai thì bị cáo không nói cho anh S được biết. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Nông Văn S và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Xác định chiếc xe mô tô này không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho anh Nông Văn S theo quy định

[7] Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Ma Thanh T: Quá trình điều tra không xác minh, xác định được đối tượng, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

Đối với anh Nông Văn S là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 97F5-6864: Việc bị cáo T sử dụng chiếc xe mô tô này của anh S để làm phương tiện đi mua ma túy thì anh S không biết, do đó cơ quan điều tra không xem xét, xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

[8] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân:

Xét thấy quan điểm giải quyết vụ án của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ma Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ma Thanh T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 01/4/2024 đến ngày 09/4/2024.

[3]. Về vật chứng:

[3.1]. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (Một) phong bì ký hiệu T75, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu C2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu T2 bên trong có chứa 01 (Một) lọ nước cất và 01 (Một) xi lanh đều chưa qua sử dụng; 01 (Một) chiếc quần vải (dạng quần nỉ), quần dài, màu xám đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.

[3.2]. Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) chiếc điện thoại di động có bàn phím, màu đen, phía sau có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

[3.3]. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nông Văn S, sinh năm 1984, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng 01 (Một) xe mô tô BKS 97F5-6864 dán nhãn HONDA DREAM màu trắng, tím, đen, xe cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 22/7/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

[4]. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Ba Bể;
  • - Công an huyện Ba Bể;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Bể;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (Khi có HLPL);
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 01/4/2024 tại tiểu khu 2, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Ma Thanh Thoát đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,17g (Không phẩy một bảy gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger