|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 28 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Trung Dũng
Bà Phạm Kim Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Duy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
- Huỳnh Văn T, sinh ngày 17/11/1981; tại B, Vĩnh Long. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Chỗ ở hiện nay: ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1955 (sống) và con bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1956 (chết); Vợ Nguyễn Kiều H, sinh năm 1986 (đã ly hôn), hiện đang sống chung như vợ chồng với Đoàn Thị Cẩm Y, sinh năm 1988; A, chị, em ruột: 07 người (lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1996).
- Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
- Nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo không có tiền án, tiền sự nào khác đã được xóa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 03/02/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Nguyễn Minh T2, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: ấp F, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
- Bà Ngô Thị E (có mặt).
- Lê Minh T3 (có mặt).
- Nguyễn Thị K (có mặt).
- Lê Thị T4 (có mặt).
- Đoàn Thị Cẩm Y (vắng mặt).
- Lương Thị P (có mặt).
Là những người làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 27/01/2024, Công an xã V, thành phố V tiếp nhận tin báo của bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1965, đăng ký thường trú tại ấp F, xã V, thành phố V, về việc: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 27/01/2024 tại ấp F, xã V, thành phố V, Huỳnh Văn T (sinh ngày 17/11/1981) có địa chỉ thường trú: ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, đang thuê trọ của bà có hành vi dùng dao yếm chém nhiều cái trúng vào hai tay và vùng đầu của Nguyễn Minh T2 (sinh năm 1974), đăng ký thường trú tại ấp F, xã V, thành phố V gây thương tích.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) cây dao bằng kim loại (dạng dao yếm) cán bằng gỗ, chiều dài 17cm. Trong đó: cán dao bằng gỗ dài 5,5cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 0,29cm (đã qua sử dụng).
- 01 (một) cây tua vít bằng kim loại dài 9,5cm. Trong đó: cán bằng nhựa dài 4cm (đã qua sử dụng).
- 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, màu đen (đã qua sử dụng).
- 01 (một) cục đôn tròn bằng đá (chày đâm tiêu) dài 7cm, đường kính nơi rộng nhất là 02cm, đường kính nơi nhỏ nhất là 1,1cm (BL 02, 16, 36).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 29/KLTTCT-TTPY ngày 31/01/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh H đối với Nguyễn Minh T2, kết luận:
- Tổng tỷ lệ thương tích gây tổn thương cơ thể hiện tại là 09 % (chín phần trăm).
- Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương vùng thái dương trái, vết phẫu thuật mở rộng vết thương hình chữ V mặt trong 1/3 dưới cẳng tay phải đến mô út, vết phẩu thuật mở rộng vết thương mặt trước trong 1/3 giữa cẳng tay trái do vật sắc bén tác động trực tiếp gây nên.
- Vật gây thương tích: Các vết thương trên do vật sắc bén gây nên (BL 99-100).
Trong quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Văn T khai nhận: Vào khoảng 16 giờ (không nhớ chính xác) ngày 27/01/2024, T đi nhậu cùng với Võ Văn L và Võ Văn H1 ở phía sau phòng trọ của Huỳnh Văn T5 tại nhà trọ của ông S, gần dãy nhà trọ của T. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày, Đoàn Thị Cẩm Y (đang sống chung như vợ chồng với T), sinh năm 1988 đến thì T kêu Y ngồi nhậu chung, nhưng Y không nhậu mà bỏ ra về. T tiếp tục ngồi nhậu đến gần 20 giờ, thì con riêng của Y đến chơi nên T hỏi “Sau con không ở nhà với mẹ đi” thì con của Y trả lời “Mẹ đang nhậu ở nhà bà S rồi”. T tiếp tục ngồi nhậu khoảng 10 phút nữa thì nghỉ nhậu và đi về rồi ghé nhà của Lê Thị T4 (thuộc ấp F, xã V, thành phố V) kêu Y về, khoảng 05 đến 10 phút sau Y về. Lúc này, T và Y xảy ra cự cãi qua lại, Y khoá cửa phòng lại và vứt bỏ chìa khoá, T nghe bên nhà của T4 nói chuyện liên quan đến việc T và Y cự cãi nhưng T không rõ là nói gì. Trong lúc say rượu, T bực tức nên T lấy cây dao yếm cầm trên tay trái, còn tay phải thì cầm cây vít. T kêu Y mở cửa để qua nhà T4 nói chuyện nhưng Y không cho, T và Y tiếp tục cãi nhau. Sau đó, Y sợ bị T đánh nên lấy chày đâm tiêu bằng đá đập ổ khóa cửa phòng, T cầm cây dao và cây vít đi đến nhà T4 thì thấy Nguyễn Minh T2 đang ngồi nhậu. T cầm cây dao yếm chém T2, T2 đưa tay lên đỡ thì cây dao rớt xuống nền nhà. T khom người xuống lấy cây dao đứng lên chém 02 đến 03 cái vào người của T2 nhưng không xác định trúng vị trí nào do T quá say rượu. Khi nghe những người nhậu chung với ông T2 la máu ra nhiều thì T dừng lại và bỏ đi đến phía sau phòng trọ của T5, vứt bỏ cây dao yếm và cây vít ở đám dây khoai lang và ngồi tại đó. Khoảng 20 phút sau, lực lượng công an đến mời T về làm việc (BL 122-124, 148-150).
Ngày 30/01/2024, Nguyễn Minh T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Huỳnh Văn T theo quy định của pháp luật (BL 56).
* Về trách nhiệm dân sự: Tại biên bản ghi lời khai ngày 13/7/2024, bị hại Nguyễn Minh T2 yêu cầu Huỳnh Văn T bồi thường toàn bộ chi phí điều trị và tiền mất thu nhập (BL 136 - 137).
Vật chứng vụ án được nhập kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh để bảo quản và xử lý theo quy định.
- Tại bản Cáo trạng số: 30/CT-VKSTPVT ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về Tội cố ý gây thương tích theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn T từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 28/01/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015. Buộc bị cáo T bồi thường cho bị hại T2 các khoản chi phí đã tự nguyện thỏa thuận thống nhất tại phiên tòa.
Về tang vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định.
Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Phát biểu tự bào chữa bị cáo T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường các khoản chi phí được thỏa thuận tại phiên tòa và mong bị hại tha lỗi cho bị cáo, gồm: Về chi phí điều trị, tiền thuốc và xe di chuyển là 10.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại khi nằm viện điều trị 03 ngày x 400.000 đồng/ngày = 1.200.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại khi nghĩ dưỡng sức do không lao động được 20 ngày x 400.000 đồng/ ngày = 8.000.000 đồng; tiền mất thu nhập cho người nuôi bệnh 03 ngày x 500.000 đồng/ ngày = 1.500.000 đồng.
- Bị hại T2 trình bày: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự: Đồng ý các chi phí bồi thường tại phiên tòa: Về chi phí điều trị, tiền thuốc và xe di chuyển là 10.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại khi nằm viện điều trị 03 ngày x 400.000 đồng/ngày = 1.200.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại khi nghĩ dưỡng sức do không lao động được 20 ngày x 400.000 đồng/ ngày = 8.000.000 đồng; tiền mất thu nhập cho người nuôi bệnh 03 ngày x 500.000 đồng/ ngày = 1.500.000 đồng; ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung diễn biến sự việc:
[1]. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng gần 20 giờ ngày 27/01/2024, tại nhà của bà Lê Thị T4 thuộc ấp F, xã V, thành phố V, Huỳnh Văn T dùng 01 cây dao bằng kim loại (dạng dao yếm) cán bằng gỗ, chiều dài 17cm (trong đó: cán dao bằng gỗ dài 5,5cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 0,29cm) chém vào hai tay và vùng thái dương của Nguyễn Minh T2 gây thương tích.
Xét, bị cáo T là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được gây thương tích tổn hại sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, tổng tỷ lệ thương tích gây tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn Minh T2 là 09 % (chín phần trăm) và hành vi của bị cáo dùng dao yếm lưỡi dao bằng kim loại là “hung khí nguy hiểm” gây thương tích cho bị hại, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, hành vi của bị cáo T có tính chất côn đồ, nên bị cáo bị truy tố thêm tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bởi lẽ: giữa bị cáo và bị hại T2 không có xẩy ra mâu thuẫn gì trước đó, T2 không quen biết gì với bị cáo, chỉ vì bị cáo đi nhậu về cự cãi với bà Y (người đang sống chung như vợ chồng với bị cáo) và nghe có người bên phòng (không xác định được ai) nói chuyện về vợ chồng mình, mà bị cáo đã liều lĩnh đi sang dùng dao sắt nhọn chém liên tiếp nhiều cái trúng vào tay, thái dương của bị hại T2, thể hiện tính côn đồ, ngạo mạng sẵn sàng dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Như vậy, hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh truy tố với tội danh tương ứng và tình tiết định khung hình phạt theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội.
[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến tín mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ.
[4]. Xét về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi xảy ra sự việc bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo T có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nào trước đó đã được xóa, bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, không có thu nhập ổn định.
Từ những phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản thân bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo cũng đã ăn năn hối cải và tại phiên tòa bị cáo cũng đã tích cực thỏa thuận các chi phí bồi thường cho bị hại, nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét các tình tiết khi lượng hình, để bị cáo có cơ hội sớm cải tạo trở thành người công dân tốt. Nên mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh 09 (chín) tháng tù là phù hợp và đúng quy định nên được chấp nhận.
[5]. Về tang vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các hung khí và vật dụng liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao bằng kim loại (dạng dao yếm) cán bằng gỗ, chiều dài 17cm. Trong đó: cán dao bằng gỗ dài 5,5cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 0,29cm (đã qua sử dụng); 01 (một) cây tua vít bằng kim loại dài 9,5cm. Trong đó: cán bằng nhựa dài 4cm (đã qua sử dụng); 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) cục đôn tròn bằng đá (chày đâm tiêu) dài 7cm, đường kính nơi rộng nhất là 02cm, đường kính nơi nhỏ nhất là 1,1cm.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo T và bị hại T2 thống nhất thỏa thuận các chi phí bồi thường cho bị hại gồm các khoản:
- Về chi phí điều trị, tiền thuốc và xe di chuyển là 10.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại khi nằm viện điều trị 03 ngày x 400.000 đồng/ngày = 1.200.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại khi nghĩ dưỡng sức do không lao động được 20 ngày x 400.000 đồng/ ngày = 8.000.000 đồng; tiền mất thu nhập cho người nuôi bệnh 03 ngày x 500.000 đồng/ ngày = 1.500.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 20.700.000 đồng (hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng), ngoài ra bị hại không yêu cầu gì thêm. Xét, đây là sự tự nguyện thỏa thuận thống nhất của đương sự và không trái với quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T phải chịu số tiền 200.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu số tiền 1.035.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 28/01/2024.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án. Thời gian tạm giam tính từ ngày tuyên án ngày 28 tháng 5 năm 2024.
3. Về tang vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao bằng kim loại (dạng dao yếm) cán bằng gỗ, chiều dài 17cm. Trong đó: cán dao bằng gỗ dài 5,5cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 0,29cm (đã qua sử dụng); 01 (một) cây tua vít bằng kim loại dài 9,5cm. Trong đó: cán bằng nhựa dài 4cm (đã qua sử dụng); 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) cục đôn tròn bằng đá (chày đâm tiêu) dài 7cm, đường kính nơi rộng nhất là 02cm, đường kính nơi nhỏ nhất là 1,1cm.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.
Buộc bị cáo Huỳnh Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Minh T2 tổng cộng số tiền 20.700.000 đồng (hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Nguyễn Minh T2 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu số tiền 1.035.000 đồng (một triệu không trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Huỳnh Văn T và bị hại Nguyễn Minh T2 có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 09 tháng tù
