|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Long Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lý Đức Thà
Bà: Hoàng Thị Viễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thiết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hải Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân huyện Hà Quảng và Điểm cầu thành phần Nhà Tạm giữ Công an huyện H, đối với bị cáo:
Sầm Văn H, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1996; nơi sinh, nơi cư trú: xóm N, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sầm Văn H1 và bà Sầm Thị N; có vợ là Hoàng Thị H2 và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-8-2024 đến nay, tại Nhà Tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lục Thị H3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C, bào chữa cho bị cáo Sầm Văn H; có mặt.
- Công chức Tòa án hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại Điểm cầu thành phần: Bà Nông Thị H4 - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Sầm Văn H sử dụng ma túy (Heroine) từ năm 2021, để có ma tuý sử dụng Bị cáo thường đi mua Heroine tại bến xe cũ Thành phố C với người không quen biết. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16-8-2024, bị cáo H đi bộ từ nhà ở xóm N (xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đến khu vực tổ dân phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy. Tại khu vực đường bê tông thuộc tổ dân phố F, thị trấn T, bị cáo H mua với một người đàn ông đeo khẩu trang (không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Trên đường về nhà, Bị cáo dừng lại tại khu vực vắng người qua lại và lấy một phần nhỏ H5 ra sử dụng. Số ma túy còn lại Bị cáo gói lại như cũ rồi cất vào trong túi quần đằng trước bên trái. Sau đó Bị cáo tiếp tục đi theo hướng xã N để về nhà thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang vào hồi 17 giờ 50 phút cùng ngày, thu được trong túi quần đằng trước bên trái của Bị cáo 01 gói nhỏ nilon màu trắng đục (vỏ đựng kim tiêm), mở bên trong là gói giấy bạc màu vàng chứa màu trắng dạng bột, cục nhỏ. Kết quả cân gói chất bột màu trắng thu giữ đối với Bị cáo có khối lượng tịnh là 0,13g (không phẩy mười ba gam). Kết luận giám định số 488/KL-KTHS, ngày 23-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSHQ, ngày 21 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Người bán ma túy cho Bị cáo không xác định được, vì vậy không đủ cơ sở để xử lý trong cùng vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng trong phần tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt Bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số Heroine là vật chứng của vụ án (còn nguyên niêm phong).
- - Về án phí: Theo quy định Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, tuy nhiên Bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí cho Bị cáo theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho Bị cáo, nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên về việc truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, phạm tội do nghiện, khối lượng ma túy không lớn; Bị cáo sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để tuyên hình phạt đối với Bị cáo ở mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị. Đồng thời, đề nghị miễn án phí cho Bị cáo.
Tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; nhất trí với Luận cứ bào chữa của Người bào chữa và không có ý kiến bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi của Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố
Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với toàn bộ lời khai trong quá trình điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với các tài liệu, vật chứng thu được trong vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận, bị cáo Sầm Văn H mua ma túy về để sử dụng và bị bắt quả tang ngày 16-8-2024, cùng với tang vật thu được có khối lượng tịnh 0,13 gam (không phẩy mười ba gam) là ma túy, loại “Heroine” (Bản Kết luận giám định số 488/KL-KTHS, ngày 23-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh C). Đây là những chứng cứ xác định Bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận các chứng cứ do Kiểm sát viên đưa ra.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...b)...;
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ văn hóa và hiểu biết về pháp luật, nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ, vận chuyển, mua bán chất ma túy. Nhưng, do lệ thuộc vào chất ma túy không làm chủ được bản thân, Bị cáo đã sa đà vào tệ nạn ma túy và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét hành vi của Bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma tuý đang ngày càng diễn biến phức tạp, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần phạm tội này không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng vì là người nghiện ma túy nên Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo thành khẩn khai báo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ của đại diện Viện kiểm sát, Người bào chữa là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về quyết định hình phạt
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo và tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với Bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, xét đề nghị của Người bào chữa cho Bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo mức khởi điểm của Viện kiểm sát đề nghị là chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi Bị cáo đã gây ra, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận. Để cải tạo, giáo dục Bị cáo trở thành người công dân lương thiện và đáp ứng yêu cầu công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, cần phải quyết định một mức án nghiêm khắc và cách ly Bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để đảm bảo việc răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
[4] Việc xử lý vật chứng
Chất ma túy thu được của Bị cáo, kết quả giám định là Heroine, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5] Về án phí
Bị cáo là người bị kết án, theo quy định phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy Bị cáo thuộc hộ nghèo và có Đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 9, 12, 15, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Sầm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Sầm Văn H 13 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày Bị cáo bị bắt tạm giữ, là ngày 16-8-2024.
2. Việc xử lý vật chứng
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu, tiêu hủy số Heroine đựng trong 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật, mặt trước phong bì ghi “Tang vật Heroin thu giữ trên người Sầm Văn H bắt ngày 16-8-2024".
Xác nhận: Vật chứng đã được chuyển giao cho cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23 tháng 10 năm 2024.
3. Về án phí
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 9, 12, 15, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sầm Văn H.
4. Về quyền kháng cáo
Căn cứ vào các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Long Thị Thanh |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sầm Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
