|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 25/11/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùa A Phềnh.
Ông Lò Văn Chương.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Vừ Phá S; sinh năm: 1954, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vừ Chớ D (đã chết); Con bà: Sùng Thị S1 (đã chết). Bị cáo có vợ là: Lầu Thị D1; sinh năm 1956. Bị cáo có 12 người con, con lớn nhất sinh năm 1972, con nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/4/1997 Bị cáo bị TAND tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 39/HSST, đến ngày 30/4/2000 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, Bị cáo đã được xoá án tích đối với bản án trên.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/8/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
2. Người bào chữa cho bị cáo Vừ Phá S: Bà Mai Thị Thanh L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/8/2024, Vừ P Sếnh một mình đi ăn cưới ở bản G B, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, khi đi Bị cáo mang theo 2.000.000 đồng với mục đích khi ăn cưới xong thì đi tìm mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày khi Bị cáo đang đi đến khu vực đường thuộc đường B, xã N thì gặp 01 người đàn ông Mông khoảng 32 tuổi (Bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở đường T B. Bị cáo hỏi người đàn ông “Anh có H phiến bán không?”. Người đàn ông đáp “Có, tôi có 1 ít anh muốn mua bao nhiêu?”, Bị cáo bảo “Tôi muốn mua 02 gói”, người đàn ông bảo Bị cáo “2 gói 2 triệu nhé”, Bị cáo đồng ý. Sau đó Bị cáo đi theo người đàn ông đó đi lên rừng, khi đi đến nơi Bị cáo nhìn thấy người đàn ông đó lấy ra 01 gói nilon màu trắng từ trong 01 chiếc túi vải màu xanh đang cất giấu ở rừng đưa cho Bị cáo. Bị cáo mở ra kiểm tra bên trong có 02 gói nilon màu xanh bên trong có các viên nén màu hồng là Hồng phiến. Sau đó Bị cáo gói lại gói ma tuý như ban đầu rồi đưa cho người đàn ông đó 02 triệu đồng. Sau khi mua được ma tuý Bị cáo cất giấu gói ma tuý đó tại khu vực ở rừng thuộc bản G B rồi đi về nhà tại bản S, xã N. Khoảng 08 giờ ngày 21/8/2024 Bị cáo đi bộ từ nhà đến nơi cất giấu số ma tuý đã mua được vào ngày 20/8/2024 ở khu vực bản G B lấy toàn bộ số ma tuý đã cất giấu rồi đi về nhà. Khi Bị cáo đi về đến nhà không thấy ai ở nhà, Bị cáo đã lấy 02 viên H phiến ra sử dụng đồng thời vứt mảnh nilon trắng đi, số còn lại trong 02 túi nilon màu xanh có khoá zip Bị cáo cất giấu dưới gối ngủ, đầu giường của Bị cáo. Khoảng 15 giờ ngày 29/8/2024 Bị cáo lấy ra một ít Hồng phiến (Bị cáo không đến số lượng) và gói vào túi nilon màu trắng buộc thắt nút lại cho vào trong chiếc túi vải màu đen với mục đích mang đi theo lên nương để tiếp tục sử dụng. Tại lán nương của Bị cáo tại bản Sơn Tống, Bị cáo lấy ra 02 viên Hồng phiến để sử dụng bằng hình thức hút. Đến 19 giờ 15 phút cùng ngày sau khi ăn cơm xong Bị cáo đang nằm xem điện thoại tại lán nương thì Tổ công tác của Đ Biên phòng đến kiểm tra và yêu cầu Bị cáo có vật chứng vi phạm tự giác giao nộp. Bị cáo lấy ra 01 gói nilon màu trắng, miệng gói buộc thắt nút bên trong có 20 viên nén màu hồng là Hồng phiến của Bị cáo được cất giấu tron túi vải màu đen của Bị cáo đang treo trên cột lán nương. Sau đó, Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ niêm phong vật chứng đối với Bị cáo theo quy định của pháp luật. Tổ công tác đã tiến hành khám xét lán nương và nơi ở của Bị cáo. Tại lán nương không phát hiện, thu giữ gì thêm, tại chỗ ở của Bị cáo đã phát hiện và thu giữ tại vị trí đầu giường ngủ, phía dưới gối ngủ của Bị cáo 02 gói màu xanh, bên trong 01 gói có 16 viên nén màu hồng; 01 gói còn lại chứa 173 viên. Bị cáo khai nhận toàn bộ số viên nén màu hồng trên là Hồng phiến của S, được Bị cáo mua của một người đàn ông dân Mông vào ngày 20/8/2024 tại bản Gia Phú B. Ngày 29/8/2024 Đồn Biên phòng M- Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ đã khởi vụ án hình sự số: 06/QĐ- KT ngày 30/8/2024, Đồn Biên phòng Mường Chà chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án, cùng vật chứng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 30/8/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vừ P Sếnh như sau: Số viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên có chữ WY (tồng 03 gói Trong đó: Gói 1 gồm 20 viên có khối lượng là 2,09 gam, được ký hiệu là M1; Gói 2 gồm 16 viên có khối lượng là 1,67 gam, được ký hiệu là M2; Gói 3 gồm 173 viên có khối lượng là 17,88 gam, được ký hiệu là M3). Tổng số 209 viên có khối lượng là 21,64 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 1424/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: 209 viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên có chữ WY được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vừ P Sếnh giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 19,97 gam.
Tại bản cáo trạng số: 243/CT-VKSHĐB ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Vừ Phá S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 19,97 gam Methamphetamine vật chứng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ và 02 túi nilon màu xanh miệng có khoá zip, 01 túi nilon màu trắng, 01 túi vải màu đen là vật không có giá trị sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Người bào chữa cho Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố, cho rằng Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử Bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật. Gia đình Bị cáo là người có công với cách mạng. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho Bị cáo hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo, Bị cáo là người từ đủ 70 tuổi, đề nghị HĐXX miễn án phí cho Bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì với bài bào chữa của trợ giúp viên pháp lý.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vừ Phá S khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 29/8/2024 tại khu vực lán nương và nhà ở của Bị cáo thuộc bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 21,64 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
g).........Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; ...".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên; Bị cáo không đi được học. Năm 1967 Bị cáo kết hôn với bà Lầu Thị D1; Bị cáo có 12 người con chung, con lớn nhất sinh năm 1972, con nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/4/1997 Bị cáo bị TAND tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 39/HSST, đến ngày 30/4/2000 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, Bị cáo đã được xoá án tích đối với bản án trên nhưng Bị cáo có nhân thân xấu.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo là người già 70 tuổi trở lên, ngoài ra Bị cáo còn có 02 Bác ruột (hiện gia đình Bị cáo đang là người thờ cúng) là Liệt sĩ, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên và Người bào chữa tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo tuổi già không có thu nhập, nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án gồm:
19,97 gam Methamphetamine vật chứng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ và 02 túi nilon màu xanh miệng có khoá zip, 01 túi nilon màu trắng, 01 túi vải màu đen là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông mang Mông bán ma tuý cho Bị cáo vào ngày 20/8/2024 tại khu vực đường thuộc đường B, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Bị cáo không biết tên, địa chỉ, thông tin khác của người đó, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có cơ sở để điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy HĐXX không xem xét.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí:
Bị cáo là người từ 70 tuổi trở lên. Tại phiên Tòa, Bị cáo xin HĐXX miễn án phí HSST cho Bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
[9] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vừ Phá S, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo: 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/8/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS:
* Tịch thu tiêu hủy: 19,97 gam Methamphetamine vật chứng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ và 02 túi nilon màu xanh miệng có khoá zip, 01 túi nilon màu trắng, 01 túi vải màu đen là vật không có giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt Vừ Phá S 05 năm tù
