|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2023/DS-ST Ngày 18 tháng 8 năm 2023 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 24/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (V); trụ sở chính: số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: số D H, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Trần Xuân K – Phó phụ trách P - Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh C.
- Bà Châu Phương K1 – Phó Trưởng P - Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh C.
(Văn bản ủy quyền số 56/UQ-CĐO.HCNS ngày 01/12/2022).
Bị đơn: Ông Nguyễn Anh K2, sinh năm 1961 và bà Võ Thị K3, sinh năm 1964; cùng cư trú: tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Y, sinh năm 1974; nơi cư trú: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Ông Trần Xuân K, bà Nguyễn Thị Huỳnh Y có mặt; ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 vắng mặt (có đơn yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng TMCP N trình bày: Ông K2 và bà K3 có ký các Hợp đồng cho vay từng lần dài trung hạn với Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh C – PGD Tịnh Biên (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) cụ thể như sau:
- Hợp đồng cho vay từng lần dài trung hạn số 31/2022/TB-TLD ngày 05/7/2022, số tiền vay: 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
- Hợp đồng cho vay từng lần dài trung hạn số 32/2022/TB-TLD ngày 07/7/2022, số tiền vay: 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
Thời hạn và lãi suất cho vay của hai hợp đồng trên như sau:
- Mục đích vay: sửa chữa máy gặt đập liên hợp.
- Thời hạn vay: 60 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay.
- Lãi suất cho vay: 11,5%/năm, cố định 03 tháng tính từ thời điểm giải ngân đầu tiên, lãi suất sau thời gian trên được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng và được điều chỉnh 03 tháng/1lần. (Lãi suất nợ quá hạn bằng 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn).
Để đảm bảo khoản vay, ông K2, bà K3 thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 104/2021/TB ngày 22/6/2021 (do bà Nguyễn Thị Huỳnh Y đứng tên hợp đồng) là 01 Quyền sử dụng đất, số CH07970bE (diện tích: 42,9 m²; đất ở tại đô thị; thửa đất số 47; tờ bản đồ số 22) được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc cấp ngày 04/3/2011 tọa lạc tại phường C, thành phố C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Huỳnh Y.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông K2 và bà K3 đã trả cho Ngân hàng số tiền 11.439.726 đồng (trong đó: nợ gốc 5.800.000 đồng, nợ lãi 5.639.726 đồng) và không tiếp tục thanh toán theo hợp đồng cho đến nay. Ông K2, bà K3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng kể từ ngày 26/9/2022. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng dư nợ của hai hợp đồng vay, tạm tính đến ngày 23/02/2023 số tiền 364.187.041 đồng, trong đó nợ gốc 344.200.000 đồng, nợ lãi trong hạn 19.583.130 đồng, lãi quá hạn 403.911 đồng.
Ông K2 và bà K3 phải tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi vay phát sinh sau ngày 23/02/2023 với mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả dứt nợ. Đồng thời, yêu cầu duy trì tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thi hành án.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 cùng trình bày: Ông K2, bà K3 thừa nhận còn nợ ngân hàng vốn gốc của hai hợp đồng vay là 344.200.000 đồng và tiền lãi phát sinh như Ngân hàng trình bày. Để đảm bảo khoản vay, em ruột ông K2 là bà Nguyễn Thị Huỳnh Y đã ký bảo lãnh, thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 104/2021/TB ngày 22/6/2021 là 01 Quyền sử dụng đất số CH07970bE được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc cấp ngày 04/3/2011 tọa lạc tại phường C, thành phố C, tỉnh An Giang do Nguyễn Thị Huỳnh Y đứng tên. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa thực hiện thanh toán đầy đủ các khoản vay cho Ngân hàng, đối với tài sản thế chấp do bà Nguyễn Thị Huỳnh Y hiện đang trực tiếp quản lý.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Huỳnh Y trình bày: Ông K2, bà K3 là anh ruột và chị dâu của bà Huỳnh Y . Năm 2022 do cần tiền làm ăn nên bà Y có nhờ ông K2,bà K3 đứng tên ký các Hợp đồng vay với Ngân hàng.
Để đảm bảo khoản vay, bà Y đã thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 104/2021/TB ngày 22/6/2021 là 01 Quyền sử dụng đất, số CH07970bE (diện tích: 42,9 m²; đất ở tại đô thị; thửa đất số 47; tờ bản đồ số 22) được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc cấp ngày 04/3/2011 tọa lạc tại phường C, thành phố C, tỉnh An Giang do bà Nguyễn Thị Huỳnh Y đứng tên giấy chứng nhận và đứng tên hợp đồng thế chấp trên.
Quá trình vay, bà Y có đóng tiền nợ gốc và lãi được khoảng hơn 9.000.000 đồng (không nhớ rõ số tiền) thì ngưng thanh toán cho đến nay. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên gia đình chưa thể trả nợ cho Ngân hàng nên xin được trả lãi hàng tháng để tiếp tục duy trì các hợp đồng vay với Ngân hàng.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Ngân hàng TMCP N trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông K2, bà K3 phải thanh toán cho Ngân hàng vốn vay và lãi tính đến hết ngày 17/8/2023 là 385.559.924 đồng, trong đó nợ gốc là 344.200.000 đồng, lãi trong hạn 39.143.333 đồng, lãi quá hạn 2.216.591 đồng, yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp cho đến khi ông K2, bà K3 trả hết nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Huỳnh Y trình bày: Thừa nhận có ký bảo lãnh Hợp đồng thế chấp tài sản để ông K2, bà K3 vay số tiền 350.000.000 đồng theo hai hợp đồng vay, tài sản thế chấp hiện bà Y đang trực tiếp quản lý. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên chưa thanh toán tiền vay còn nợ cho Ngân hàng. Trường hợp Ngân hàng yêu cầu thi hành án đối với tài sản thế chấp, bà Y yêu cầu được thi hành án trong phạm vi giá trị của tài sản thế chấp.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện việc thỏa thuận vay nợ giữa Ngân hàng TMCP N với ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, ông K2, bà K3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 trả số tiền vốn, lãi tính đến ngày 17/8/2023 đối với hai Hợp đồng tín dụng tổng số tiền vốn gốc là 344.200.000 đồng, lãi trong hạn 39.143.333 đồng, lãi quá hạn 2.216.591 đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận quy định theo các hợp đồng đã ký từ ngày 18/8/2023 cho đến khi thanh toán xong, duy trì tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thi hành án, là phù hợp
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng,
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản với bị đơn ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Do đó, việc Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc thụ lý, giải quyết là phù hợp, thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K2, bà K3 theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung,
- Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản:
Xét Hợp đồng cho vay từng lần dài trung hạn số 31/2022/TB-TLD ngày 05/7/2022 và Hợp đồng cho vay từng lần dài trung hạn số 32/2022/TB-TLD ngày 07/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP N với ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 được Ngân hàng giải ngân theo hai Hợp đồng số tiền 200.000.000 đồng và 150.000.000 đồng. Sau khi vay cho đến ngày 25/8/2025, ông K2, bà K3 đã trả cho Ngân hàng số tiền 11.439.726 đồng (trong đó: nợ gốc 5.800.000 đồng, nợ lãi 5.639.726 đồng) và không tiếp tục thanh toán theo hợp đồng cho đến nay.
- Về yêu cầu của nguyên đơn: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 có trách nhiệm trả nợ gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 17/8/2023, cụ thể:
- Đối với Hợp đồng số 31/2022/TB-TLD ngày 05/7/2022: tổng số tiền 220.613.349 đồng, trong đó: nợ gốc 196.700.000 đồng; nợ lãi trong hạn 22.631.073 đồng, lãi quá hạn 1.282.276 đồng.
- Đối với Hợp đồng số 32/2022/TB-TLD ngày 07/7/2022: tổng số tiền 164.946.575 đồng, trong đó: nợ gốc 147.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn 16.512.260 đồng, lãi quá hạn 934.315 đồng.
Xét, quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 có trách nhiệm trả nợ là phù hợp với nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với quy định tại các Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (18/8/2023), ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc quá hạn chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
- Về hợp đồng thế chấp tài sản: Ngân hàng yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 104/2021/TB ngày 22/6/2021 để đảm bảo khả năng trả nợ. Xét, hợp đồng thế chấp tài sản được lập thành văn bản, có công chứng và được đăng ký bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Ngày 03/8/2023, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp thấy rằng tài sản thế chấp hiện do bà Nguyễn Thị Huỳnh Y (em ruột ông K2) quản lý. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp bất động sản là phù hợp quy định pháp luật, xét chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Ngân hàng có yêu cầu ông K2, bà K3 phải chịu khoản tiền này. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên xét buộc ông K2, bà K3 phải hoàn trả cho Ngân hàng 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng theo quy định tại Điều 157, khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP N.
Ngân hàng TMCP N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UB TVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N.
Buộc ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền vốn gốc và lãi suất vay tính đến hết ngày 17/8/2023 là 385.559.924 đồng, trong đó: nợ gốc 344.200.000 đồng, nợ lãi trong hạn 39.143.333 đồng, lãi quá hạn 2.216.591 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (18/8/2023), ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc quá hạn chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
- Về hợp đồng thế chấp tài sản: Duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 104/2021/TB ngày 22/6/2021 giữa Ngân hàng TMCP N với bà Nguyễn Thị Huỳnh Y.
Trường hợp khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ông K2, bà K3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chổ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 phải chịu 19.278.000 (mười chín triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 9.105.000 (chín triệu một trăm lẻ năm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003195 ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Ngân hàng TMCP N.
- Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng TMCP N và bà Nguyễn Thị Huỳnh Y có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Anh K2 và bà Võ Thị K3 vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lâm Ngọc Phượng |
Bản án số 46/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản
- Số bản án: 46/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ....
