|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HSST Ngày: 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Ngân.
Bà Vũ Thị Hoà.
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Khánh Nguyệt, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương T – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/20242/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
LÃ THỊ H, tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 10/11/1974 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Chỗ ở: Số nhà C, đường L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lã Đức T1 (đã chết), con bà Nguyễn Thị Đ; Chồng: Nguyễn Văn T2; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1997. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/12/2023. Hiện đang tại ngoại, có mặt.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 05/2023, trong quá trình kinh doanh bán hàng tạp hoá, nước giải khát tại địa chỉ số F, đường L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai,
Lã Thị H thấy có một vài nam giới đến uống nước hỏi về vấn đề tìm gái bán dâm nên Lã Thị H nảy sinh ý định môi giới, dẫn dắt gái bán dâm đi bán dâm cho khách để kiếm thêm tiền chi tiêu cho bản thân. Đến khoảng tháng 11/2023, Lã Thị H nhận Khoàng Thị D (sinh năm 1994, nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu) về làm việc, Lã Thị H là người trực tiếp quản lý, nuôi ăn và môi giới đi bán dâm cho khách. Lã Thị H đã môi giới cho Khoàng Thị D đi bán dâm cụ thể:
Khoảng 20 giờ 26 phút ngày 23/12/2023, Lã Thị H đang ở nhà tại số C đường L, tổ F phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì nhận được điện thoại của Khoàng Thị D thông báo có khách muốn đi mua dâm nên Lã Thị H đi đến quán để trực tiếp giao dịch với khách mua dâm. Khi đến quán, Lã Thị H gặp Bùi Đức T3 (sinh năm 1986, nơi cư trú: Tổ B, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái) đang đứng trong quán. Tại đây, Bùi Đức T3 và Lã Thị H thỏa thuận về việc T3 mua dâm đối với Khoàng Thị D với giá 400.000 đồng (đi bán dâm trong khoảng thời gian từ 30 phút - 40 phút). Bùi Đức T3 lấy 400.000 đồng đưa cho Lã Thị H, sau khi cầm tiền Lã Thị H bảo với Khoàng Thị D đưa Bùi Đức T3 sang nhà nghỉ lấy phòng. Khoàng Thị D cùng Bùi Đức T3 đến nhà nghỉ K địa chỉ số E, đường L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai thuê phòng 104. Sau khi vào phòng, Khoàng Thị D và Bùi Đức T3 thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, tổ công tác Công an thành phố L kiểm tra phát hiện hành vi mua bán dâm của Khoàng Thị D và Bùi Đức T3. Tổ công tác phát hiện, thu giữ 01 (một) bao cao su (đã qua sử dụng); 01 (một) vỏ bao cao su màu hồng, bị xé rách một góc, trên vỏ bao cao su có nhiều chữ nước ngoài.
Ngày 23/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Lã Thị H tại số nhà F, đường L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai và số nhà C đường L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét tạm giữ đồ vật, tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 353105102987153 (đã qua sử dụng); 142 (một trăm bốn mươi hai) chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, nhãn hiệu U; Tiền ngân hàng N1: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Ngoài ra còn tạm giữ của Lã Thị H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen số IMEI 1: 358044844519724, số IMEI 2: 358044844519732 bên trong gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng); Tiền ngân hàng N1 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng); 02 tờ giấy ô ly Hải Tiến, trên giấy có ghi tên, chữ số bằng bút màu đen.
Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố Lã Thị Hương về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lã Thị H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lã Thị H mức án từ 6 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 – 18 tháng; Giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, quản lý. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng đề nghị tịch thu, tiêu huỷ các bao cao su và vỏ bao cao su đã thu giữ, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động là phương tiện để liên lạc môi giới mại dâm và số tiền 400.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lã Thị H không tranh luận tại phiên toà mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lã Thị H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 23/12/2023, Lã Thị H đã có hành vi làm trung gian để Bùi Đức T3 sinh năm 1986 và Khoàng Thị D, sinh năm 1994 mua, bán dâm ở phòng 104 nhà nghỉ K địa chỉ số E, đường L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Hành vi trên của bị cáo đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lã Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự quy định:
“Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm thì bị phạt từ từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh đô thị, ảnh hưởng đến đời sống văn hoá. Bị cáo nhận thức
được hành vi của mình là sai trái nhưng vì tư lợi nên vẫn cố ý thực hiện nên cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ do bị cáo gây ra.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo có bố đẻ là Lã Đức T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự để quyết định hình phạt.[4]. Về nhân thân phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng.
[5] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, thấy rằng:
Bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ biện pháp răn đe, phòng ngừa. Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Đối với Khoàng Thị D và Bùi Đức T3: Quá trình điều tra xác định Khoàng Thị D đã thực hiện hành vi bán dâm theo sự môi giới của Lã Thị H. Bùi Đức T3 đã thực hiện hành vi mua dâm thông qua việc môi giới của Lã Thị H. Hành vi của Khoàng Thị D, Bùi Đức T3 đã vi phạm về hành chính theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Công an thành phố L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khoàng Thị D và Bùi Đức T3 là phù hợp.
[7]. Đối với anh Lò Láo S (Sinh năm 1994, Nơi cư trú: Bản S, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai) là lễ tân nhà nghỉ K; chị Kim Thị H1 (Sinh năm 1991, Nơi cư trú: Tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) - là người đứng tên đăng ký kinh doanh nhà nghỉ K; anh Phùng Văn H2 (Sinh năm 1986, Nơi cư trú: Tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) - là người quản lý nhà nghỉ K. Quá trình điều tra xác định anh Lò Láo S, chị Kim Thị H1, anh Phùng Văn H2 không biết các đối tượng đến thuê phòng nghỉ để mua bán dâm và không tham gia đến các hoạt động mại dâm. Tuy nhiên việc chủ cơ sở kinh doanh thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm tại cơ sở do mình quản lý đã vi phạm về hành chính theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Công an thành phố L đã đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.
[8]. Vật chứng và tài sản tạm giữ của vụ án:
Quá trình điều tra xác định các tài sản, đồ vật, tài liệu tạm giữ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, việc trả lại cho chủ sở hữu không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Đối với số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), quá trình điều tra xác định số tiền trên là của bà Lê Thị Hằng N (Sinh năm 1967, Nơi cư trú: Tổ I, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai). Ngày 28/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại số tiền trên cho bà Lê Thị Hằng N. Xét thấy là có căn cứ, cần chấp nhận.
Đối với 01 (một) bao cao su (đã qua sử dụng); 01 (một) vỏ bao cao su màu hồng, bị xé rách một góc, trên vỏ bao cao su có nhiều chữ nước ngoài; 142 (một trăm bốn mươi hai) chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, nhãn hiệu U; 07 (bảy) chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, màu hồng, có nhiều chữ nước ngoài ở trên vỏ bao cao su. Xét thấy đây là các vật dụng có liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen số IMEI 1: 358044844519724, số IMEI 2: 358044844519732 bên trong gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) của bị cáo, xét thấy đây là phương tiện mà Lã Thị H sử dụng vào hoạt động có liên quan đến việc phạm tội môi giới mại dâm nên cần tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tạm giữ của Lã Thị H hiện đã được gửi vào tài khoản của Công an thành phố L số [...] mở tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai, xét thấy đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.
[9]. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 328, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lã Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Xử phạt bị cáo Lã Thị H 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao Lã Thị H cho UBND phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục. Trường hợp Lã Thị H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao cao su (đã qua sử dụng); 01 (một) vỏ bao cao su màu hồng, bị xé rách một góc, trên vỏ bao cao su có nhiều chữ nước ngoài; 142 (một trăm bốn mươi hai) chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, nhãn hiệu U; 07 (bảy) chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, màu hồng, có nhiều chữ nước ngoài ở trên vỏ bao cao su.
- - Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen số IMEI 1: 358044844519724, số IMEI 2: 358044844519732 bên trong gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) của bị cáo Lã Thị H.
- - Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 400.000 đồng của Lã Thị H do phạm tội mà có, hiện đang bị tạm giữ gửi vào tài khoản của Công an thành phố L số 3949.0.9049863 tại Kho bạc Nhà nước L theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 19/01/2024..
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lã Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức T4 |
Bản án số 33/2024/HSST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (môi giới mại dâm)
- Số bản án: 33/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lã Thị H phạm tội "Môi giới mại dâm"
