|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: .../2024/HS-ST
Ngày 24-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Trâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 15/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Đ, sinh ngày 18/6/1980 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi thường trú: Tổ dân phố B, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Hồng S, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị K, sinh năm 1956; Anh chị em ruột: Có 5 người, bị cáo là con thứ nhất; Có chồng Nguyễn Minh T, sinh năm 1974 và có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ 18 giờ 40 phút ngày 06/3/2024 đến 18 giờ 40 phút ngày 09/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Những người làm chứng:
- Anh Trần Văn N, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt).
- Anh Phạm Gia L, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/01/2024, Đỗ Thị Đ ký Hợp đồng làm đại lý xổ số với Công ty TNHH Một thành viên X, địa điểm mở bán tại nhà riêng của Đ thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn S, huyện S. Quá trình bán xổ số kiến thiết, có nhiều khách hỏi mua số lô, số đề trái phép nên Đ nảy sinh ý định bán số lô, số đề trái phép cho khách có nhu cầu. Điệp bán số đề theo tỷ lệ 1 ăn 70 (nghĩa là mua 1.000 đồng tiền đề, nếu trúng thưởng sẽ được 70.000 đồng), số lô bán với giá 23.000 đồng/01 điểm, căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở cùng ngày làm căn cứ trả thưởng, so sánh số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng, đối với số lô trùng với 02 số cuối của 27 giải thì trúng thưởng, số lô trúng thưởng sẽ được 80.000 đồng/01 điểm.
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 06/3/2024, Trần Văn N và Phạm Gia L đến nhà Đ hỏi mua số lô số đề trái phép, Đ đồng ý và đã bán cho N và L số lô, số đề trái phép cụ thể như sau:
- Bán cho Trần Văn N:
+ Số lô: 22 x 50 điểm; 89 x 50 điểm; 78 x 30 điểm. Tổng là 130 điểm x 23.000 đồng/01 điểm = 2.990.000 đồng. Số đề 59, 95 x 20.000 đồng = 40.000 đồng. Tổng số tiền Đ bán số lô, số đề trái phép cho N là 3.030.000 đồng. N đã trả tiền cho Đ. Nguyên ghi các số lô, đề đã mua trái phép vào tờ giấy kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 25/12/2023 sau đó chụp lại vào điện thoại của N và đưa lại tờ giấy cho Đ để làm căn cứ đổi thưởng sau này.
- Bán cho Phạm Gia L:
+ Số lô: 03 x 30 điểm; 30 x 30 điểm; 23 x 40 điểm. Tổng 100 điểm x 23.000 đồng = 2.300.000 đồng. Số đề 03, 30, 23 x 10.000 đồng = 30.000 đồng. Tổng số tiền Đ bán số lô, số đề trái phép cho L là 2.330.000 đồng. L đã trả tiền cho Đ. L ghi các số lô, đề đã mua trái phép vào tờ giấy kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 28/12/2023 sau đó chụp lại vào điện thoại của L và đưa lại tờ giấy cho Đ để làm căn cứ đổi thưởng sau này.
Khi L vừa trả tiền cho Đ thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Thị Đ về hành vi bán số lô, số đề trái phép (lúc này chưa có kết quả xổ số).
Tổng số tiền Đỗ Thị Đ bán số lô, số đề trái phép ngày 06/3/2024 là 5.360.000đ (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 36/QĐ-VKSSD ngày 31/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Đỗ Thị Đ về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố Đỗ Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Đỗ Thị Đ từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Trong quá trình điều tra, bị cáo Đ đã bị tạm giữ 03 (ba) ngày nên được khấu trừ khi quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ (cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên đề nghị không khấu trừ thu nhập.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Quyết định truy tố đã nêu, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo và cho bị được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc xem xét hành vi của Đỗ Thị Đ.
Bị cáo Đỗ Thị Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng vì tin vào sự may rủi, nhằm thu lời bất chính, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự của địa phương. Tổng số tiền Đ bán số lô trái phép đã xác định được là 5.360.000 đồng lớn hơn định lượng tối thiểu (là 5.000.000đ) được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng lời khai nhận tội của chính bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/3/2024 tại nhà riêng của Đỗ Thị Đ thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn S, huyện S, Đỗ Thị Đ đã có hành vi bán số lô trái phép thu được số tiền 5.360.000đ (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Có bố đẻ là Đỗ Hồng S được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3]. Về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[3.1] Hình phạt chính:
Xét toàn diện căn cứ để quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có sơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự), không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo đã giảm đi đáng kể. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; Để đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và xử bị cáo mức án khởi điểm trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Do bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bị tạm giữ 03 (ba) ngày nên được khấu trừ khi quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ (cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ).
[3.2]. Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[4]. Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[5] Về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo bản án và các vấn đề khác.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 5.360.000đ (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Xét thấy đây là tiền do thu lời bất chính, căn cứ theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ 01 bút bi mực màu xanh đã qua sử dụng; 01 bàn gỗ kích thước (58x120x64) cm đã qua sử dụng; 01 ghế nhựa màu xanh đã qua sử dụng. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi mua số lô, đề trái phép của Trần Văn N và Phạm Gia L, quá trình điều tra xác định không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 26/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện S để xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với N và L theo thẩm quyền. Do vậy, không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Đ phạm tội: “Đánh bạc”.
1. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Đ 06 (sáu) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ 18 giờ 40 phút ngày 06/3/2024 đến 18 giờ 40 phút ngày 09/3/2024 là 03 (ba) ngày quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải thi hành 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Đỗ Thị Đ cho Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
2. Về xử lý vật chứng và tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm:
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.360.000đ (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng), hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1064844.00000 là tài khoản của Chi Cục thi hành án huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S (Theo công văn số 415/CV-CQCSĐT ngày 03/4/2024 của công an huyện S).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bút bi, mực màu xanh, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bàn gỗ kích thước (58x120x64) cm, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) ghế nhựa màu xanh, cũ đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương lập ngày 03/4/2024).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo Đỗ Thị Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Đỗ Thị Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trâm |
Bản án số /2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Đ - 321
