Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 tháng 6 năm 2024

V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Thiện;
  2. Bà Giáp Thị Hiền;

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY tham gia phiên toà: Ông Hà Đăng Chương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/02/2024, thông báo thay đổi phiên toà số 04/2024/TB-TA ngày 18 tháng 3 năm 2024, quyết định tạm ngừng phiên toà số: 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2024, quyết định hoãn phiên toà số: 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2024, quyết định hoãn phiên toà số: 71/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2024, thông báo thay đổi phiên toà số: 13/2024/TB-TA ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn Tân Long, xã TN, huyện TY, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

Người làm chứng: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1956, bà Trần T2 T2, sinh năm 1959; cùng địa chỉ: thôn Tân Long, xã TN, huyện TY, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

2. Bị đơn: chị Nguyễn T2 N, sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn Tân Long, xã TN, huyện TY, tỉnh Bắc Giang, nơi ở: thôn Lò Nồi, xã Hợp Đức, huyện TY, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/01/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn T2 N kết hôn ngày 03/5/2017 trên cơ sở có tự nguyện, có tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TN, huyện TY. Sau khi kết hôn anh và chị N về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình nhà anh địa chỉ thôn Tân Long, xã TN, huyện TY, tỉnh Bắc Giang, sau đó vợ chồng anh ra ở riêng, thời gian đầu vợ chồng anh hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó vợ chồnh anh có xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống không hợp nhau dẫn đến xảy ra cãi nhau, đến tháng 4/2018 chị N xin phép về nhà mẹ đẻ tại thôn Lò Nồi, xã Hợp Đức, huyện TY để bẻ vải, sau đó chị N không quay về sống cùng anh nữa. Anh và chị N sống ly thân từ đó cho đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn T2 N.

Về con chung: Vợ chồng anh có một con tên là Nguyễn Văn X, sinh ngày 29/10/2017. Hiện nay con đều khỏe mạnh, phát triển bình thường và chung sống cùng chị N, sau khi ly hôn anh mong muốn được trực T1 nuôi dưỡng cháu X. Vì khi con ở cùng chị N con không được chăm sóc tốt, con còi. Anh đang làm tự do mua bán xe máy cũ, anh có mở cửa hàng tại nhà anh, nhà anh đang ở loại nhà cấp 4 nhà ống, xây dựng năm 2017 trên đất của bố mẹ đẻ anh, anh làm công việc mua bán xe máy cũ, thu nhập bình quân là 10.000.000đ/ tháng. Khi vợ chồng sống ly thân, chị N có mang theo con cháu X 6 tháng tuổi đi cùng. Trong thời gian ly thân anh thường xuyên có sang thăm, lúc con còn nhỏ anh có mua sữa tốt nhất cho con, từ khi con vào học lớp 1 anh có đưa chị N, trong năm 2023 anh đưa tiền nuôi con cho là khoảng 13.000.000đ đến 14.000.000đ. Ngoài ra anh còn mua đồ dùng cá nhân cho con, bản thân anh vẫn chăm sóc thăm nom con.

Lý do anh yêu cầu nuôi con: Bởi vì con ở cùng chị N càng ngày càng còi, không thấy tăng cân, bản thân chị N chưa sát sao trong vấn đề nuôi con, chị N còn gửi con cho chị gái đón hộ. Anh xét thấy anh có đủ điều kiện về vật chất, thời gian, tinh thần để nuôi con tốt hơn chị N.

Mặc dù anh bị khuyết tật về thần kinh, sức khoẻ của anh ổn định, bình thường như mọi người, bản thân anh chủ động về kinh tế.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp và công nợ: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn T2 N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn như anh Nguyễn Văn T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh và chị N về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình nhà anh T. Thời đầu vợ chồng chung sống có hòa thuận, hạnh phúc, sau đó thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống không hợp nhau dẫn đến xảy ra cãi nhau đến tháng 4/2018 vợ chồng chị đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con tên là Nguyễn Văn X, sinh ngày 29/10/2017, như anh T trình bày là đúng Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con.

Lý do chị yêu cầu được nuôi con: Từ khi vợ chồng ly thân cháu X khoảng 8 đến 9 tháng tuổi, anh T đi lại thăm nom con, mọi việc do chị chăm sóc, nuôi con cho đến nay. Bản thân chị có sức khoẻ, có đi làm công nhân May ở Minh Đức - Việt Yên, cách nhà chị khoảng 12km, thời gian đi làm vào 7 giờ 30 phút, tan làm một tuần có 3 buổi tan ca lúc 5 giờ 30 phút, còn lại là tan ca lúc 6 giờ, thứ 7 tan ca lúc 5 giờ chiều. Thu nhập bình quân là 8.000.000đ/ tháng. Bản thân chị vẫn đảm bảo chăm sóc, nuôi dạy con tốt, vì hiện nay con ở cùng chị ổn định, phát triển bình thường, việc học tập của con được đảm bảo, theo kết quả học tập học kỳ I của con là điểm kiểm tra môn toán, tiếng việt đều 10 điểm, đều xếp loại tốt, kết quả học tập cả năm con đạt học sinh xuất sắc, bên cạnh đó con đã quen cuộc sống như hiện nay, chị không muốn cuộc sống của con bị ảnh hưởng, xáo trộn. Bản thân đã có nhà 3 gian cấp 4 năm 2021 trên đất của mẹ chị cho. Do vậy chị đủ điều kiện nuôi con tốt về cả vật chất, lẫn tinh thần. Từ những lý do trên nên chị không đồng ý giao con cho anh T nuôi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp và công nợ: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn T2 T2 trình bày: Ông, bà là bố mẹ đẻ của Nguyễn Văn T.

Vào năm 2006, con ông bà có đi xây dựng trong Miền Nam và bị tai nạn lao động, sau khi bị tai nạn thì con bị mất ngủ nên có đi bệnh viện tâm thần cây số 4 khám và họ cho uống thuốc, từ đó đến nay con không phải đi khám, điều trị tại bệnh viện nào khác, đến nay con có uống thuốc.

Lời khai của anh T, chị N trình bày là đúng. Sau khi cưới ông bà cho hai con ra ở riêng, kinh tế riêng, ông bà không biết nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng, mong vợ chồng hai con về đoàn tụ. Thời điểm vợ chồng hai con ly thân, cháu X được khoảng 6 tháng tuổi, chị N đưa đi theo và nuôi con cho đến nay.

Bản thân con ông bà vẫn đi làm bình thường và ở riêng, con ông bà không có biểu hiện gì là không bình thường.

Ông bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của BLTTDS.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 55, khoản1, 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn T2 N.

Về con chung: giao cho chị Nguyễn T2 N trực T1 nuôi con là Nguyễn Văn X, sinh ngày 29/10/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn xử lý về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Nguyễn T2 N có nơi cư trú tại huyện TY, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Bắc Giang là đúng qui định.

[1.2]. Về quan hệ pháp luật: anh Nguyễn Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp hôn nhân và gia đình với anh Nguyễn Văn Điền nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của BLTTDS xác định quan hệ pháp luật là: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn T2 N kết hôn trên cơ sở có tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã Hợp Đức, huyện TY, tỉnh Bắc Giang ngày 03 tháng 5 năm 2017. Do vậy hôn nhân giữa anh T, chị N là hôn nhân hợp pháp. Tại biên lấy lời khai, biên bản hoà giải, anh T và chị N đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn xẩy ra, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, có xẩy ra cãi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2018 cho đến nay, do vậy đây là tình tiết mà các đương sự thừa nhận không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy: anh Nguyễn Văn T xin ly hôn chị N T2 N đồng ý, HĐXX: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn T2 N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn T2 N có 01 con là Nguyễn Văn X, sinh ngày 29/10/2017, thời điểm vợ chồng ly thân cháu X chưa được 01 tuổi do chị N chăm sóc nuôi dưỡng cho đến nay, theo kết quả học giữa kỳ I, cháu X đạt loại tốt, điểm môn Toán, Tiếng Việt đều 10 điểm, sức khoẻ tốt. Bản thân chị N, anh T có công việc, thu nhập ổn định, có nơi ở ổn định, do vậy cả anh T và chị N đều đủ điều kiện để nuôi con, tuy nhiên từ nhỏ con ở cùng chị N và do chị N chăm sóc, con ở cùng chị N đều phát triển bình thường, để cuộc sống của con không bị ảnh hưởng, xáo trộn từ những phần tích nêu trên, HĐXX xét thấy cần giao cho chị Nguyễn T2 N trực T1 nuôi con là Nguyễn Văn X, sinh ngày 29/10/2017 là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Anh Nguyễn Văn T được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm đ khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tìnhg ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn T2 N.
  2. Về con chung: giao cho chị Nguyễn T2 N trực T1 nuôi con là Nguyễn Văn X, sinh ngày 29/10/2017.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền nay.

  3. Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện TY;
  • - CCTHADS TY;
  • - UBND xã TN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger