Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG.


Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/4/2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung.


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Tam;
  2. Bà Thái Trân.

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 537/2023/TLST-HNGĐ ngày 08/12/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HN ngày 25 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST- HN ngày 09/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; có mặt

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ cư trú: Số E, ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 10/11/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Võ Thị Kim H trình bày: Về hôn nhân giữa bà H với ông Huỳnh Văn T do quen biết nhau trước, được cha, mẹ hai bên đồng ý nên hai người tiến tới hôn nhân vào năm 1997. Hai người có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 44/TH, Quyền số 01/98, ngày 05/9/1998. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc được không lâu thì ông T lo ăn chơi cờ bạc, gây nợ nần, bà H phải trả nhiều lần, bên cạnh đó ông T không lo cho vợ con. Bà H muốn cho các con có một gia đình hạnh phúc nên bà cố gắng chịu đựng và khuyên ngăn ông T, sau vài lần ông T hứa hẹn sẽ bỏ nhưng cứ chứng nào, tật nấy ông T vẫn vi phạm. Đến năm 2020 ông T bỏ nhà đi và không liên lạc được cho đế nay. Nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Bà H xin được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà H với ông T có với nhau 02 đứa con chung tên Huỳnh Thị Hoàng M, sinh năm 1998 và Huỳnh Thị Hoàng L, sinh năm 2003, hiện hai cháu đã trường thành.

Về tài sản chung: Bà Võ Thị Kim H khai, bà với ông T không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Võ Thị Kim H khai, bà với ông T không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Huỳnh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông T vắng mặt không lý do.

Biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2024 bà Lý Ngọc D, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang bà D khai:

Nhà bà D ở gần nhà bà H và ông T, bà D với bà H và ông T là người cùng xóm. Bà D biết bà H và ông T cưới nhau vào năm 1997. Sau khi cưới nhau thì bà H và ông T sống gần nhà bà D, sống hạnh phúc được vài năm đầu thì giữa hai người họ xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T thường xuyên cờ bạc (đánh bài, đá gà, cá độ bóng đá, đi casino), gây ra nợ nần, bà H đứng ra trả nợ, sự việc cứ như vậy kéo dài đến năm 2020 thì ông T bỏ nhà đi cho đến nay không thấy ông thuộc quay về nhà. Ông T là người chồng không có trách nhiệm và thường gây nợ nần làm bà H đứng ra trả nợ. Vì lý do đó nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, sống không có hạnh phúc.

Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 20/3/2024 Công an xã C cung cấp: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1969 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do ông T vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2024 của bà Lý Ngọc D, biên bản không lấy được lời khai ông T ngày 20/3/2024, Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 20/3/2024 Công an xã C cung cấp.

Tại phiên tòa, bà H giữ nguyên yêu cầu, ông T vắng mặt,

Bà H xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; ông T không cung cấp chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, bà Võ Thị Kim H với ông Huỳnh Văn T có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2020 giữa bà H với ông T có phát sinh mâu thuẫn. Bà H với ông T đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H với ông T có 02 con chung tên Huỳnh Thị Hoàng M, sinh năm 1998 và Huỳnh Thị Hoàng L, sinh năm 2003, hiện hai cháu đã trường thành. Không đặt ra giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Bà Võ Thị Kim H khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ cư trú: Số E, ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

thuẫn, không có hạnh phúc.

Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 20/3/2024 Công an xã C cung cấp: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1969 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang

Sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Văn T vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim H với ông Huỳnh Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 44/TH, Quyền số 01/98, ngày 05/9/1998. Xét, hôn nhân giữa bà H với ông T là hợp pháp.

Bà H khai khai. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc được không lâu thì ông T lo ăn chơi cờ bạc, gây nợ nần cho bà H phải trả nhiều lần, bên cạnh đó ông T không lo cho vợ con. Bà H muốn cho các con có một gia đình hạnh phúc nên bà cố gắng chịu đựng và khuyên ngăn ông T, sau vài lần ông T hứa hẹn sẽ bỏ nhưng cứ chứng nào, tật nấy ông T vẫn vi phạm. Đến năm 2020 ông T bỏ nhà đi và không liên lạc được cho đế nay. Nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Bà H xin được ly hôn với ông T.

Biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2024 bà Lý Ngọc D, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang bà D khai:

Nhà bà D ở gần nhà bà H và ông T, bà D với bà H và ông T là người cùng xóm. Bà D biết bà H và ông T cưới nhau vào năm 1997. Sau khi cưới nhau thì bà H và ông T sống gần nhà bà D, sống hạnh phúc được vài năm đầu thì giữa hai người họ xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T thường xuyên cờ bạc (đánh bài, đá gà, cá độ bóng đá, đi casino), gây ra nợ nần, bà H đứng ra trả nợ, sự việc cứ như vậy kéo dài đến năm 2020 thì ông T bỏ nhà đi cho đến nay không thấy ông thuộc quay về nhà. Ông T là người chồng không có trách nhiệm và thường gây nợ nần làm bà H đứng ra trả nợ. Vì lý do đó nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không có hạnh phúc.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,... và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Bà H với ông T có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Giữa bà H với ông T đã sống xa cách nhau từ năm 2020 đến nay.

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của bà H ly hôn đối với ông T.

[3] Về con chung: Bà H với ông T có với nhau 02 đứa con chung tên Huỳnh Thị Hoàng M, sinh năm 1998 và Huỳnh Thị Hoàng L, sinh năm 2003, hiện hai cháu đã trường thành. Không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai giữa bà H với ông T không có tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này ông T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T với bà H có tài sản, nợ chung mà không tự thỏa thuận được thì ông T vẫn có quyền khởi kiện bà H ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà Võ Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007684 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Ông Huỳnh Văn T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim H.

Về hôn nhân: Bà Võ Thị Kim H được ly hôn với ông Huỳnh Văn T;

Về con chung: Bà Võ Thị Kim H với ông Huỳnh Văn T có 02 cháu tên Huỳnh Thị Hoàng M, sinh năm 1998 và Huỳnh Thị Hoàng L, sinh năm 2003 đã trường thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này ông Huỳnh Văn T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T với bà H có tài sản, nợ chung thì ông T vẫn có quyền khởi kiện bà H ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Bà Võ Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007684 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Ông Huỳnh Văn T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Võ Thị Kim H có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời gian kháng cáo của ông Huỳnh Văn T là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - Viện KSND TX (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Thi hành án DS TX (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Châu Phú B;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM


Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Ngô Thế Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị Kim H ly hôn với ông Huỳnh Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger