Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HSST

Ngày 24-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: bà Đoàn Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Đông
  2. Ông Nguyễn Văn Sở

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Lê Thị Tuyết Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: ông Thạch Quanh Thây, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Trong ngày 24/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/HSST ngày 07/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/HSST – QĐ ngày 11/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trần Đại D, sinh năm 1997 tại Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số G H, phường F, thành phố T, tỉnh Long An; nơi ở hiện tại: số G, phường F, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 (còn sống) và bà Trần Thị Kim L (còn sống); chưa có vợ; có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: năm 2017, bị TAND TP. Tân An áp dụng biện pháp Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng; năm 2019, bị TAND TP. Tân An áp dụng biện pháp Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2023 đến ngày 18/12/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ công an thành phố T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Trần Lê Anh T năm 1997; nơi cư trú: số B Q, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1969; nơi cư trú: số G, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 09/12/2023 Công an xã H tuần tra trên đường bờ kè thuộc ấp D, xã H, thành phố T, L hiện hai đối tượng: Nguyễn Trần Đại D và Trần Lê Anh T1 ngồi trên bờ kè có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải của D2 mặc có một gói nylon màu trắng có rãnh khép bên trong chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng công an đã lập biên bản thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật. Qua điều tra Nguyễn Trần Đại D3 nhận túi nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo được khai nhận như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 09/12/2023 bị cáo D sử dụng xe mô tô mang biển số 62-298KB thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn D4 năm 1969 (Cha ruột của bị cáo D chở Trần Lê Anh T2 tiệm tạp hóa tại khu vực đường N, phường E, thành phố T, L mua thuốc lá. Khi đến tiệm T4 đi vào mua còn D đứng ngoài đợi. Trong lúc đứng đợi D gặp người bạn tên T3 (không rõ họ tên, địa chỉ), T1 cho bị cáo 01 gói ny lon chứa ma túy, bị cáo cất gói ma túy vào trong túi quần đang mặc. Khi T4 trở ra, bị cáo D5 T về nhà bị cáo để lấy nỏ thủy tinh đem theo để sử dụng ma túy, sau đó bị cáo D6 tiệm tạp hóa tại vòng xoay phường E và nước suối rồi đi đến bờ kè thuộc ấp D, xã H, thành phố T tìm chổ sử dụng ma túy, tại đây bị cáo D7 T sử dụng ma túy nhưng T5 chối. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày cả hai bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang D đang tàng trữ 01 gói nylon bên trong chứa ma túy.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T bị cáo Nguyễn Trần Đại D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên phù hợp với tất cả các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

*Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • 01 (một) túi nylon màu trắng có rãnh khép, bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trần Đại D, Trần Lê A T Võ Ngọc TB
  • 01 xe mô tô 62-298KB, màu đen, trắng.

* Bản Kết luận giám định số 1284/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong túi nylon có rãnh khép được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2031 gam, loại Methamphetamin.

* Bản cáo trạng số 32/CT-VKSTA-HS ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Trần Đại D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trần Đại D không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Trần Đại D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt: bị cáo Nguyễn Trần Đại D từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

* Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra cụ thể: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 09/12/2023 Nguyễn Trần Đại D8 hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nylon chứa chất ma túy có tổng khối lượng: 0,2031 gam, loại Methamphetamin mục đích để sử dụng.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4] Bị cáo Nguyễn Trần Đại D cất giấu số ma túy có khối lượng: 0,2031 gam, loại Methamphetamine với mục đích là để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Trần Đại D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c. Heroine, CMethamphetamine, A1, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[5] Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Nguyễn Trần Đại D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[6] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Nhân thân: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, có 02 lần đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo đang nuôi con nhỏ, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Đánh giá tính chất vụ án: bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi đó không những xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây hủy hoại sức khỏe của con người, là nguy cơ làm gia tăng các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị tại địa phương.

[8] Về hình phạt: Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy với tính chất của loại tội phạm về ma túy, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về tang vật vụ án:

  • Đối với xe mô tô mang biển số 62-298KB thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn D1 (Cha ruột bị cáo D. Việc bị cáo D sử dụng xe mô tô đi sử dụng trái phép chất ma túy ông không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông là phù hợp.

Các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy gồm:

Mẫu vật ma túy sau giám định còn lại 0,0870 gam được niêm phong trong bì thư của phòng K1 Công an tỉnh L số 1284/KL-KTHS ngày 15/12/2023 có chữ ký của người niêm phong Nguyễn Thanh H chứng kiến Phạm Thị Thanh T6

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[12] Nội dung khác:

Đối với người đàn ông tên T1 cho bị cáo ma túy do chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, truy tìm xử lý sau.

Đối với và Trần Lê Anh T7 điều tra việc D cất giữ gói ma túy trong người T không biết nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với T Tuy nhiên qua xét nghiệm, xác định T8 sử dụng ma túy nên đề nghị công an xã H T xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Đại D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Đại D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2023.

  3. Áp dụng điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Trần Đại D 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  4. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tịch thu tiêu hủy:

    Mẫu vật ma túy sau giám định còn lại 0,0870 gam được niêm phong trong bì thư của phòng K1 Công an tỉnh L số 1284/KL-KTHS ngày 15/12/2023 có chữ ký của người niêm phong Nguyễn Thanh H chứng kiến Phạm Thị Thanh T6

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS-HS ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.)

  5. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TpTA;
  • - Công an TpTA;
  • - Bị cáo;
  • - THA, AV, Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trần Đại Dương - tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger