Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/4/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

— Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Hội Thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Tiến.

Bà Nguyễn Thị Bẩy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

— Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/01/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/03/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang trú tại: Đài Loan (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Bích T trình bày: Chị kết hôn với Anh Nguyễn Hữu C và đăng ký kết hôn ngày 23/02/2007 tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Trước khi kết hôn vợ chồng có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn không bị ép buộc hay lừa dối. Sau ngày cưới vợ chồng sinh sống tại thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không tìm thấy tiếng nói chung trong bất kỳ vấn đề gì. Từ năm 2020 đến nay vợ chồng đã ly thân, không quan tâm chăm sóc gì đến nay. Nay Chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, Chị T xin được ly hôn với Anh Nguyễn Hữu C.

Hiện nay Anh C đang ở Đài Loan, Chị T đã nhiều lần hỏi bố mẹ Anh C nhưng bố mẹ Anh C không cung cấp địa chỉ cụ thể.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 29/10/2008, cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 25/3/2012 và cháu Nguyễn Ngọc Tú L, sinh ngày 27/12/2018. Hiện cả 03 cháu đều đang ở với chị, khi ly hôn chị xin được nuôi cả 03 cháu và không yêu cầu Anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, công nợ: Không có.

Hiện nay, do công việc của chị rất bận không thể xin nghỉ phép được, vì vậy, chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải (bao gồm cả phiên hòa giải đối thoại tại Trung tâm hòa giải đối thoại) và đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn Anh Nguyễn Hữu C đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần thông qua người thân và thực hiện việc niêm yết, nhưng Anh C không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn K là bố đẻ Anh C, ông K trình bày: Ông K là bố đẻ của Anh Nguyễn Hữu C; Anh C và Chị T kết hôn năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, Anh C và Chị T sống chung với nhau ngay. Từ năm 2015, Anh C đi lao động ở Đài Loan, địa chỉ cụ thể của Anh C thì ông không biết, do Anh C không nói cho ông biết. Anh C vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Quá trình Anh C và Chị T chung sống, có 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 29/10/2008, cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 25/3/2012 và cháu Nguyễn Ngọc Tú L, sinh ngày 27/12/2018; hiện cả 03 cháu đều đang ở với Chị T. Việc Chị T xin ly hôn với Anh C thì gia đình đã thông báo cho Anh C biết, mọi văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc ly hôn của Chị T và Anh C thì ông và gia đình từ chối nhận thay.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, 03 cháu Nguyễn Ngọc N, cháu Nguyễn Minh T1 và cháu Nguyễn Ngọc Tú L gửi đơn trình bày nguyện vọng khi bố mẹ ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ là Chị Nguyễn Thị Bích T.

Tại phiên toà: Nguyên đơn Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử cho Chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn Anh Nguyễn Hữu C. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 29/10/2008, cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 25/3/2012 và cháu Nguyễn Ngọc Tú L, sinh ngày 27/12/2018 cho Chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ: không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, Chị Nguyễn Thị Bích T đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với Anh Nguyễn Hữu C và có nguyện vọng xin nuôi của 03 con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị Bích T, Anh Nguyễn Hữu C là bị đơn trong vụ án có hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn Anh Nguyễn Hữu C trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã 02 lần làm việc, yêu cầu ông K là bố đẻ Anh C cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của Anh C nhưng đều cố tình không cung cấp, do đó Anh C thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích T và Anh Nguyễn Hữu C kết hôn ngày 23/02/2007, tại thời điểm kết hôn Chị T và Anh C đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Chị T và Anh C là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, theo Chị T trình bày vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, đã ly thân nhiều năm. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng Chị T, Anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của Chị T là có căn cứ, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị T, xử cho Chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn Anh Nguyễn Hữu C.

[2.2]. Về con chung: Chị T trình bày, vợ chồng chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 29/10/2008, cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 25/3/2012 và cháu Nguyễn Ngọc Tú L, sinh ngày 27/12/2018, cả 03 cháu đều đang ở với Chị T. Chị T có nguyện vọng nuôi cả 03 con chung, 03 con chung đều có nguyện vọng ở với Chị T, ngoài ra hiện nay Anh C vẫn đang ở nước ngoài, do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu cần giao 03 con chung cho Chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng Chị T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị Bích T: Chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn Anh Nguyễn Hữu C.
  2. Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 29/10/2008, cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 25/3/2012 và cháu Nguyễn Ngọc Tú L, sinh ngày 27/12/2018 cho Chị Nguyễn Thị Bích T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Anh Nguyễn Hữu C được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận Chị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000106 ngày 24/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi cư trú của đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị T xin ly hôn anh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger