TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HSST-CTN
Ngày 23/09/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Hoàng – Nguyên hiệu trưởng Trường đoàn tỉnh Gia Lai-Kon Tum.
- Ông Trần Minh Đức - Nguyên Hiệu trưởng Trường PTCS xã Diên Phú, TP. Pleiku, Gia Lai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Dân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS-CTN ngày 22 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST– HS-CTN ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Dương Bá C, Sinh ngày 22 tháng 10 năm 1996, tại: Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn A, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương Bá T, sinh năm 1972 và con bà Đàm Thị L, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 29/01/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
2. Nguyễn Anh TuấnSinh ngày 1771997Gia LaiNơi thường trú: 540/14 H, tổ B, phường P, thành phố P, Gia LaiGiới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự docon bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: 01 tiền án.
Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người”, chấp hành án tại Trại giam G đến ngày 20/02/2023 chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống.
Ngày 29/01/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
3. Nguyễn Hữu ThắngSinh ngày 2151994Gia LaiNơi thường trú: Thôn P, xã I, huyện C, Gia Lai Nơi cư trú: Hẻm C C, tổ F, phường H, P, Gia Lai Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: KhôngTrình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Hữu B (Đã chết) và con bà Phan Thị T2, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1997; bị cáo có 02 con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự.
Nhân thân: Ngày 15/7/2023 bị Công an thành phố P xử phạt 6.500.000đ về hành vi gây thương tích cho người khác (ngày 08/5/2024 chấp hành xong)
Ngày 29/01/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
4. Lê Bá TuấnSinh ngày 04121998Thanh HoáNơi thường trú: Thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa Nơi cư trú:175 N, tổ D, phường P, P, Gia LaiGiới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: KhôngTrình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Bá B1, sinh năm 1974 và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1979; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 01/02/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
5. Siu Tấn TrungSinh ngày 1781994Gia LaiNơi thường trú: 70 H, tổ B, phường I, P, Gia LaiGiới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ja raiTôn giáo: Không Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Siu Tấn N, sinh năm 1961 và con bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1998; bị cáo có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 29/01/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
6. Nguyễn Anh DũngSinh ngày 23101996Gia LaiNơi thường trú: 65 T, phường D, thành phố P, Gia LaiGiới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 và con bà Ngô Thị H1, sinh năm 1974; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 29/01/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
7. Vũ Nguyễn Đình C1(Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 năm 5 tháng 8 ngày tuổi); Sinh ngày "Ngay_sinh" 1472007Gia LaiNơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã I, huyện C, G LaiNơi cư trú: 175 N, tổ D, phường P, thành phố P, Gia Lai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự doCon ông Vũ Đình H2, sinh năm 1973 và con bà Nguyễn Thị Ánh H3, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 29/01/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
8. Võ Ngọc Đ; Sinh ngày FIELD "Ngay_sinh" 1tháng 11 năm 2000 tại Gia LaiNơi thường trú: Hẻm F P, tổ A, phường Y, thành phố P, Gia LaiGiới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: KhôngTrình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự doCon ông Võ Ngọc H4 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Thu H5, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/5/2020 bị Công an thành phố P xử phạt 2.500.000đ về hành vi gây thương tích cho người khác (đã chấp hành xong).
Ngày 27/02/2024 bị bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)
-Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Vũ Nguyễn Đình C2 Vũ Đình H2 và bà Nguyễn Thị Ánh H3; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện C, Gia Lai (cha, mẹ bị cáo). (Có mặt)
-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo ELD "Ten_BC" Vũ Nguyễn Đình C2 Nguyễn Đình C3 là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. (Có mặt)
-Bị hại:
- +Li Chao; Sinh ngày 27/4/1986, Quốc tịch: Trung Quốc; Nơi tạm trú: Số nhà A T, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
- +Wang Lyu Jiang; Sinh ngày 10/5/1991; Quốc tịch: Trung Quốc; Nơi tạm trú: Số nhà A T, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Dương Bá T và bà Đàm Thị L; địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (cha, mẹ bị cáo Dương Bá C). (Có mặt)
- + Bà Nguyễn Thị T1; địa chỉ: 5 H, tổ B, phường P, thành phố P, G cáo Nguyễn Anh T3). (Có mặt)
- + Bà Phan Thị T2 và bà Nguyễn Thị Kim O; địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, G bị cáo Nguyễn Hữu T4). (Có mặt)
- + Ông Lê Bá B1 và bà Nguyễn Thị D, địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (cha, mẹ bị cáo Lê Bá T5). (Có mặt)
- + Bà Nguyễn Thị N1 và bà Nguyễn Thị Như H; địa chỉ: G H, tổ B, phường I, P, Gia Lai(mẹ, vợ bị cáo Siu Tấn T6). (Có mặt)
- + Ông Nguyễn Văn S và bà Ngô Thị H1; địa chỉ: F T, phường D, thành phố P, Gia Lai(cha mẹ bị cáo Nguyễn Anh D1). (Có mặt)
- + Ông Vũ Đình H2 và bà Nguyễn Thị Ánh H3; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện C, G bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1). (Có mặt)
- + Bà Nguyễn Thị Thu H5; địa chỉ: Hẻm F P, tổ A, phường Y, thành phố P, G cáo Võ Ngọc Đ). (Có mặt)
-Người làm chứng:
- + Hà Văn T7; địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- + Phạm Văn T8; địa chỉ: A T, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
- + Trần Thị Xuân N2; địa chỉ: G T, phường H, P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
-Người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 420 Bộ luật tố tụng hình sự: Bà Lê Thị Kim C4; chức vụ: Bí thư Đoàn TNCS phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin vắng mặt)
-Người phiên dịch:
- + Ông Lộc Ích P1; địa chỉ: Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
- + Bà Nay H6; địa chỉ: thôn D, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Li C5 được công ty CP C6 (địa chỉ: Tầng I, tòa nhà V, số F đường N, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) thuê làm việc cho Dự án điện gió I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, đăng ký tạm trú tại số nhà A T, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Vào khoảng 22 giờ ngày 21/12/2023, anh Li C5 đi một mình ra quán B3 thuộc khu vực B, phường H, thành phố P ngồi uống bia. Đến khoảng 00 giờ ngày 22/12/2023, do quán bia đóng cửa nên Li C5 tiếp tục đi đến quán bar S1 (số A H, phường D, thành phố P) để tiếp tục uống bia. Tại đây, Li C5 đã làm quen với nhóm khách trong quán gồm: Trần Thị Xuân N2 (Sinh năm 2000, trú tại C T, phường H), Nguyễn Thị T9 (Sinh năm 1998), Rơ Mah Q (Sinh năm 2000) và Nguyễn Thị Thảo N3 (Sinh năm 2002), cùng trú tại G T, phường H, thành phố P). Quá trình giao lưu, nói chuyện, nhóm của Trần Thị Xuân N2 hứa hẹn với Li C5 sẽ cùng nhau đi nhậu tiếp. Đến khoảng 02 giờ 10 phút cùng ngày, khi quán bar Đ2, nhóm của N2 rời khỏi quán mà không đi cùng Li C5. Do bực tức nên Li C5 nhờ anh Đặng Văn Đ1 (là nhân viên của quán bar S1) dẫn đi tìm nhóm của N2. Do biết nhóm của N2 thường nhậu khuya ở quán A (địa chỉ A N, phường P, thành phố P) nên anh Đ1 đã dẫn Li C5 đến quán A. Khi đến quán, Li C5 thấy nhóm của N2 đang ngồi trong quán nên Li C5 đi vào. Thấy vậy, nhóm của N2 chạy vào nhà vệ sinh của quán, tránh mặt Li C5. Li Chao đã đi theo vào nhà vệ sinh, kéo Trần Thị Xuân N2 ra ngoài để nói chuyện. Lúc này, Nguyễn Hữu T4 - chủ quán, Siu Tấn T6, Lê Bá T5, Vũ Nguyễn Đình C1, Hà Văn T10 và Dương Bá C là nhân viên của quán, cùng với Nguyễn Anh D1, Nguyễn Anh T3 là khách nhậu trong quán bước đến, đứng xung quanh Li Chao để can ngăn. Tuy nhiên, do giữa Li C5 và nhóm người tại quán B4 và đã say nên hai bên phát sinh mâu thuẫn. Li C5 đã dùng tay đánh vào mặt Nguyễn Hữu T4. Thấy vậy các đối tượng trong quán gồm: Nguyễn Hữu T4, Siu Tấn T6, Lê Bá T5, Vũ Nguyễn Đình C1 và Dương Bá C dùng tay, chân đấm, đá vào người Li C5. Nguyễn Anh D1 dùng hai tay, xách chiếc ghế gỗ, chân sắt bên cạnh ghế lên quơ ngang vai Li Chao nhưng không trúng. Nguyễn Anh T3 cầm 01 cái ghế trong quán ném trúng lưng Li C5.
Sau khi bị đánh, Li C5 vùng bỏ chạy ra khỏi quán theo hướng số nhà A N thì cả nhóm đuổi theo thứ tự như sau: Dương Bá C, Lê Bá T5, Nguyễn Anh D1, Siu Tấn T6, Vũ Nguyễn Đình C1, Nguyễn Hữu T4 và Nguyễn Anh T3. Khi C đuổi theo cách anh Li C5 khoảng 0,5m thì dùng tay đấm với theo trúng vào tay phải của anh Li C5 đang vung ra phía sau làm anh Li C5 bị loạng choạng rồi ngã sấp trên đường nhựa. Một số đối tượng đã dùng tay, chân đấm, đá vào người anh Li C5 (nhưng không gây thương tích) rồi trở về quán tiếp tục ngồi nhậu. Trong quá trình ngồi nhậu, nhóm của Nguyễn Anh T3 đã gọi Võ Ngọc Đ đến nhậu cùng.
Sau khi nằm trên đường khoảng 15 phút thì Li C5 đã gọi điện thoại cho người phiên dịch là Phạm Văn T8 (Sinh năm 1993) và W1 (Sinh năm 1995, quốc tịch Trung Quốc) đang cư trú ở A T (nhà do Ban quản lý dự án điện gió thuê cho nhóm của L2 cư trú, làm việc), kể chuyện mình bị đánh và gửi vị trí của Li C5 ở đường N. Sau đó Wang Jin B2 đã cùng với Phạm Văn T8, W Jiang đi bộ từ số nhà A T lên đường Nguyễn Tất T11 để tìm Li Chao.
Cũng trong thời gian này, do thấy Li C5 nằm trên đường đã lâu nên nhóm Nguyễn Anh T3 đã gọi 01 xe taxi đến đưa Li C5 đi cấp cứu. Sau đó, Nguyễn Anh T3, Nguyễn Anh D1 và Võ Ngọc Đ đã đi bộ đến vị trí Li C5 đang nằm, khiêng L lên xe taxi. Sau khi khiêng Li Chao lên xe taxi, nhóm của Nguyễn Anh D1 nhìn thấy nhóm của Phạm Văn T8 đang đi tới. Do nhầm tưởng T8, Wang Lyu J và Wang J là người Li Chao gọi đến đánh trả thù nên Nguyễn Anh D1 đã đuổi đánh Wang Jin B2 nhưng không được. Võ Ngọc Đ đã dùng tay đấm vào vùng mặt anh Wang Lyu J. Anh Wang Lyu J đã bỏ chạy về nhà 105 T. Sau khi thấy Li C5 và Wang L1 Jiang bị thương, anh T8 nói xe taxi chở Li C5 và Wang L1 Jiang đến Bệnh viện Đ3 cấp cứu. Đến ngày 23/12/2023 thì xuất viện về Trung Quốc tiếp tục điều trị.
- * Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra tại đường N, thuộc tổ D, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai, phát hiện đám chất màu nâu nghi máu và nhiều vết chất màu nâu nghi máu đã khô dạng loang và nhỏ giọt.
- * Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 665/KLTTTC-TTPY ngày 05/01/2024 và Công văn số 06/CV-TTPY ngày 15/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G xác định tỷ lệ thương tích đối với Li Chao:129-130, 133
- - Chấn thương gối trái, gây gãy lún mặt trước mâm chày ngoài, gãy xương dưới vỏ mặt trước mâm chày trong, phù dập xương đầu trên xương chày: 11%
- - Chấn thương gối trái gây đứt dây chằng bên ngoài khớp chưa được điều trị: 11%
- - Chấn thương gối trái, gây bán trượt sụm chêm trong ra trước, đụng dập sừng sụn sau sụn chêm trong, sừng trước- sau sụn chêm ngoài: 16%
- - Chấn thương gối trái gây đứt điểm bám đầu trên dây chằng chéo sau chưa được điều trị: 21%
- - 01 vết thương phần mềm xướt da nông dọc giữa đốt sống lưng khoảng D7-8: 3%.
- - 01 vết bầm tụ máu dọc mặt sau khoeo chân trái: 1%
- - 01 vết bầm tụ máu dọc mặt ngoài sau 1/3 trên cẳng chân trái: 1%
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Li Chao tại thời điểm giám định là 50% (năm mươi phần trăm).
- * Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 664/KLTTCT-TTPY ngày 05/01/2024 và Công văn số 05/CV-TTPY ngày 15/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G xác định tỷ lệ thương tích đối với Wang L:135-136, 139
- - 01 vết bầm tụ máu mi trên mắt trái: 1,5%
- - 01 vết bầm tụ máu màu tím sậm bờ dưới mi mắt trái: 1,5%
- - Chấn thương gây gãy xương vách ngăn mũi, gãy xương mũi trái không gây ảnh hưởng chức năng thở: 8%
- - Chấn thương gây gãy mỏm trán xương hàm trên bên trái: 8%
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của W2 tại thời điểm giám định là 18% (mười tám phần trăm).
- * Tại Kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh G:141-142
- - 04 mẫu chất màu nâu nghi máu thu tại hiện trường: là máu người, nhóm máu B
- - Mẫu máu của của Wang Lyu J: Nhóm máu B
Tại Cơ quan điều tra, các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Ngày 06/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tiến hành thực nghiệm điều tra, kết quả: Phù hợp với diễn biến của vụ án và thương tích các bị can gây ra cho bị hại Li Chao.
Vật chứng của vụ án và các đồ vật đã thu giữ:
- - 01 (một) đầu ghi hình camera giám sát nhãn hiệu Dahua (M, Seri Number: 8K03931PAZ0A740)
- - 01 (một) con dao dài 33cm, có lưỡi bằng kim loại, đầu bằng dài 19.5cm, rộng trung bình 05cm.
- - 01 (một) con dao dài 31,5cm, có lưỡi bằng kim loại, đầu bằng dài 19cm, rộng trung bình 5,8cm.
- - 01 (một) mảnh vỡ của gạch lát nền có kích thước (20x17x4)cm
- - 01 (một) cục gạch (bị vỡ) có kích thước (20x10x9)cm
- - 04 mẫu chất màu nâu nghi máu
- - 02 đĩa DVD trích xuất dữ liệu điện tử từ đầu ghi hình thu giữ tại quán A (chuyển theo hồ sơ vụ án)
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Li C5 yêu cầu bồi thường chi phí công việc bị mất, chi phí điều trị, đi lại và chi phí phục hồi sức khỏe tổng cộng là: 544.000.000đ (Năm trăm bốn mươi bốn triệu đồng).
Anh Wang Lyu J yêu cầu bồi thường chi phí công việc bị mất, chi phí điều trị, đi lại tổng cộng là: 59.396.600đ (Năm mươi chín triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
Gia đình bị can Nguyễn Anh D1 nộp số tiền 30.000.000đ; gia đình bị can Võ Ngọc Đ nộp số tiền 10.000.000đ gia đình bị can Nguyễn Hữu T4 nộp số tiền 5.000.000đ; gia đình bị can Vũ Nguyễn Đình C1 nộp số tiền 5.000.000đ; gia đình bị can Dương Bá C nộp số tiền 3.000.000đ; gia đình bị can Lê Bá T5 nộp số tiền 3.000.000đ cho Cơ quan điều tra để thay bị can khắc phục một phần hậu quả.
2. Diễn biến tại phiên tòa:
2.1. Đại diện viện kiểm sát nhân d-ân tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung Cáo trạng số: 84/CT-VKS-P2 ngày 20 tháng 5 năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố:
- - Các bị cáo Dương Bá C, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Anh T3, Lê Bá T5, Siu Tấn T6, Nguyễn Anh D1 và Vũ Nguyễn Đình C1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- - Bị cáo Võ Ngọc Đ về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
2.1.1 Về hình phạt:
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Bá C, Nguyễn Hữu T4, Lê Bá T5,
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh T3.
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm s, b Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Siu Tấn T6, Nguyễn Anh D1.
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1.
- + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Ngọc Đ.
Đề nghị xử phạt:
- -Bị cáo Dương Bá C từ 36 đến 42 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024
- -Bị cáo Nguyễn Anh T3 từ 36 đến 42 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Bị cáo Nguyễn Hữu T4 từ 30 đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Bị cáo Lê Bá T5 từ 30 đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
- - Bị cáo Siu Tấn T12 24 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Bị cáo Nguyễn Anh D1 từ 24 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1 từ 18 đến 24 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Bị cáo Võ Ngọc Đ từ 30 đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2024.
2.1.2. Về dân sự:
Căn cứ vào Điều 30, Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự thì vấn đề bồi thường thiệt hại chưa có điều kiện để chứng minh, trong quá trình điều tra bị hại cũng chưa cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình Tòa án đã triệu tập hợp lệ cho các bị hại nhiều lần nhưng các bị hại không có mặt tại phiên tòa. Do đó, cần tách vụ án ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
2.1.3. Về xử lý vật chứng:
- - Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng.
- - Hoàn trả lại bị cáo Nguyễn Hữu T4
- 01 (một) đầu ghi hình camera giám sát nhãn hiệu Dahua (M, Seri Number: 8K03931PAZ0A740)
- - Đối với 59.000.000 đồng mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Thu H5; ông Vũ Đình H2; chị Nguyễn Thị Kim O; bà Nguyễn Thị D; bà Đàm Thị L và bà Nguyễn Thị N1 đã nộp tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai thì tiếp tục bảo thủ và lưu giữ số tiền trên để thi hành cho các bị hại khi khởi kiện về dân sự yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí nằm viện, thuốc men, điều trị và các khoản khác.
2.1.4. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
2.2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1 Trình bày: Đồng ý với tội danh, điểm, khoản, điều luật như Cáo trạng số 84/CT-VKS-P2 ngày 20 tháng 5 năm 2024 đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1 chưa thành niên nhận thức pháp luật hạn chế nên cần áp dụng Điều 91, Điều 101 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề nghị mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề nghị.
2.3. Bị cáo C1 nhất trí như quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến gì thêm.
2.4. Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo V Nguyễn Đình C3 trình bày: Đồng ý với quan điểm bào chữa, không có ý kiến gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2.5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2.6. Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan điều tra, truy tố và người tiến hành tố tụng của các cơ quan này đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Không phát sinh khiếu nại, tố cáo gì về pháp luật tố tụng.
[2] Xác định tội phạm, tội danh:
Do có mâu thuẫn trước đó với nhóm của Trần Thị Xuân N2 mà Li C5 sau khi uống bia tại quán bar S1 đã đến quán A để tìm nhóm của N2 giải quyết mâu thuẫn. Khi nhìn thấy Li C5 thì nhóm của N2 chạy vào nhà vệ sinh để trốn. Thấy vậy, Li C5 đã kéo N2 ra ngoài để nói chuyện. Lúc này, nhóm của bị cáo đã tới can ngăn Li Chao nhưng vì bất đồng ngôn ngữ nên Li C5 đã dùng tay đấm vào mặt của Nguyễn Hữu T4. Bực tức vì hành vi của Li C5 nên nhóm của bị cáo gồm Dương Bá C, Vũ Nguyễn Đình C1, Nguyễn Anh D1, Nguyễn Hữu T4, Lê Bá T5, Siu Tấn T6, Nguyễn Anh T3 đã dùng tay, chân đấm, đá vào người Li C5. Riêng Nguyễn Anh D1, Nguyễn Anh T3 đã dùng ghế trong quán ném vào lưng của Li C5. Do hoảng sợ nên Li C5 bỏ chạy thì nhóm của bị cáo đuổi theo làm cho Li C5 ngã trên đường gây trấn thương trên cơ thể theo kết luận giám định là 50%.
Nằm ngã trên đường một lúc thì Li C5 gọi điện thoại cho Wang Lyu J kể lại sự việc nên Wang Lyu J và Phạm Văn T8 đi bộ tìm Li C5. Khi thấy Li C5 nằm đã lâu mà không tỉnh Võ Ngọc Đ và nhóm của Nguyễn Anh T3 đã gọi xe taxi đưa Li C5 đi bệnh viện. Võ Ngọc Đ thấy Wang Lyu J đi đến thì nhầm tưởng muốn đánh mình nên Đ đã dùng tay đấm vào mặt Wang Lyu J, gây ra các chấn thương trên vùng mặt của W Lyu Jiang với tỷ lệ thương tích là 18%.
Do vậy, đủ cơ sở để xác định: Các bị cáo Dương Bá C, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Anh T3, Lê Bá T5, Siu Tấn T6, Nguyễn Anh D1 và Vũ Nguyễn Đình C1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Võ Ngọc Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo trong vụ án:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi dùng tay, chân, ghế tác động đến cơ thể bị hại có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn. Các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất về việc dùng tay, chân đánh Li Chao nên không xác định được bị cáo nào có vai trò khởi xướng, rủ rê trong vụ án. Các bị cáo đều có vai trò thực hành nên phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra cho bị hại Li C5. Trong đó bị cáo Nguyễn Anh T3 và bị cáo Dương Bá C đóng vai trò là người thực hành tích cực khi bị cáo T3 đã dùng ghế đánh vào lưng Li C5, gây thương tích 03% còn bị cáo Dương Bá C dùng tay tấn công Li Chao làm Li Chao ngã gây trấn thương trên đầu gối trái.
Đối với bị cáo Võ Ngọc Đ chỉ vì hiểu lầm Wang Lyu Jiang muốn đánh mình mà bị cáo đã dùng tay đấm vào mặt của W Lyu Jiang với tỷ lệ thương tích là 18%. Bị cáo chịu trách nhiệm độc lập với hành vi của mình.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Anh T3 bị áp dụng tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
-Tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra các bị cáo bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đặc thù của vụ án các bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, vì vậy Tòa án tách phần bồi thường thiệt hại ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, theo đó số tiền mà gia đình của các bị cáo Nguyễn Anh D1, Võ Ngọc Đ, Vũ Nguyễn Đình C1, Nguyễn Hữu T4, Dương Bá C, Siu Tấn T6 và Lê Bá T5 đã giao nộp tại cơ quan điều tra, Cục thi hành án dân sự sẽ do Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai tiếp tục bảo thủ và lưu giữ số tiền trên đến khi các bị hại khởi kiện yêu cầu các bị cáo bồi thường về thuốc men, chi phí điều trị, viện phí và các vấn đề khác. Tuy nhiên, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại đã thể hiện ý chí, nguyện vọng của các bị cáo trong việc tích cực bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả. Vì vậy, Tòa án cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.
Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, người bị hại là Wang Lyu J đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Võ Ngọc Đ nên bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Anh D1 có cha được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, Bằng khen của Bộ Trưởng bộ C7; bị cáo Siu Tấn T6 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên hai bị cáo được tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt đối với các bị cáo:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Anh T3 có nhân thân xấu thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo T3 cũng là người thực hành tích cực khi dùng ghế trong quán ném vào lưng L, gây thương tích 03%. Bị cáo Dương Bá C là người thực hành tích cực bị cáo đã dùng tay tấn công Li C5 làm Li Chao ngã gây trấn thương trên đầu gối trái với tỷ lệ thương tích lên đến 21%. Do đó, hai bị cáo phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo Nguyễn Hữu T4, Lê Bá T5, Siu Tấn T6, Nguyễn Anh D1.
Bị cáo Nguyễn Hữu T4 là người thực hành trong vụ án bị cáo đã dùng tay, chân đá, đấm vào người Li C5. Bị cáo có nhân thân xấu cụ thể bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích cho người khác nhưng bị cáo không lấy đây làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo Lê Bá T5, và Siu Tấn T6.
Bị cáo Nguyễn Anh D1 và Siu Tấn T6 đều được áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, mức bồi thường mà gia đình bị cáo Nguyễn Anh D1 đã tự nguyện giao nộp nhiều hơn so với mức bồi thường của gia đình bị cáo Siu Tấn T6 và các bị cáo khác thể hiện sự ăn năn hối hận về việc làm của mình. Do đó, mức án của bị cáo D1 thấp hơn so với mức án của bị cáo T6.
Bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1 là người thực hành bị cáo đã dùng tay, chân đấm, đá vào người Li C5. Tuy nhiên bị cáo khi phạm tội chỉ mới 16 năm 5 tháng 8 ngày tuổi nên được áp dụng Điều 91, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, mức án của bị cáo nhẹ nhất so với các bị cáo còn lại.
Riêng đối với bị cáo Võ Ngọc Đ đã có ý thức đưa Li C5 đi bệnh viện nhưng vì hiểu lầm Wang Lyu Jiang muốn đánh mình mà bị cáo đã dùng tay đấm vào mặt của W Lyu Jiang với tỷ lệ thương tích là 18%; bị cáo bị truy tố theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo chịu mức hình phạt nhẹ hơn so với các bị cáo khác.
[6] Về dân sự:
Trong quá trình điều tra vụ án bị hại Li Chao yêu cầu bồi thường chi phí công việc bị mất, chi phí điều trị, đi lại và chi phí phục hồi sức khỏe tổng cộng là: 544.000.000đ.
Bị hại Wang L1 Jiang yêu cầu bồi thường chi phí công việc bị mất, chi phí điều trị, đi lại tổng cộng là: 59.396.600₫
Xét thấy, trong qua trình tố tụng bị hại không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu bồi thường của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, tuy đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng bị hại không tham gia phiên tòa. Căn cứ vào Điều 30, Điều 292 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử sơ thẩm tách vấn đề bồi thường thiệt hại để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu khởi kiện của bị hại.
[7] Về vật chứng:
-Các vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy gồm:
- +01 (một) con dao dài 33cm, có lưỡi bằng kim loại, đầu bằng dài 19.5cm, rộng trung bình 05cm.
- + 01 (một) con dao dài 31,5cm, có lưỡi bằng kim loại, đầu bằng dài 19cm, rộng trung bình 5,8cm.
- + 01 (một) mảnh vỡ của gạch lát nền có kích thước (20x17x4)cm
- + 01 (một) cục gạch (bị vỡ) có kích thước (20x10x9)cm
- + 04 mẫu chất màu nâu nghi máu
-Hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu T4:
- +01 (một) đầu ghi hình camera giám sát nhãn hiệu Dahua (M, Seri Number: 8K03931PAZ0A740)
-Đối với số tiền 59.000.000 đồng mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Thu H5; ông Vũ Đình H2; chị Nguyễn Thị Kim O; bà Nguyễn Thị D; bà Đàm Thị L và bà Nguyễn Thị N1 đa nộp tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai thì tiếp tục bảo thủ và lưu giữ số tiền trên để đảm bảo cho công tác thi hành án dân sự khi bị hại khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trọng một vụ án khác.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng:
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Bá C, Nguyễn Hữu T4, Lê Bá T5,
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh T3.
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm s, b Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Siu Tấn T6, Nguyễn Anh D1.
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1.
- + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Ngọc Đ.
- Căn cứ Điều 30, Điều 292, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Bá C, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Anh T3, Lê Bá T5, Siu Tấn T6, Nguyễn Anh D1, Vũ Nguyễn Đình C1 và Võ Ngọc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
3. Về hình phạt:
- -Xử phạt bị cáo Dương Bá C 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024
- -Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T3 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T4 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Lê Bá T5 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
- - Xử phạt bị cáo Siu Tấn T6 30 (ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D1 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Vũ Nguyễn Đình C1 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2024.
4. Về dân sự: Tách yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại Li C5 và Wang L1 Jiang ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu khởi kiện của bị hại.
5. Về xử lý vật chứng:
Xử tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) con dao dài 33cm, có lưỡi bằng kim loại, đầu bằng dài 19.5cm, rộng trung bình 05cm.
- + 01 (một) con dao dài 31,5cm, có lưỡi bằng kim loại, đầu bằng dài 19cm, rộng trung bình 5,8cm.
- +01 (một) mảnh vỡ của gạch lát nền có kích thước (20x17x4)cm
- + 01 (một) cục gạch (bị vỡ) có kích thước (20x10x9)cm
- + 04 mẫu chất màu nâu nghi máu
- Hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu T4.
- 01 (một) đầu ghi hình camera giám sát nhãn hiệu Dahua (M, Seri Number: 8K03931PAZ0A740)
- Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai tiếp tục bảo thủ và lưu giữ 56.000.000 đồng theo biên bản bàn giao vật chứng số 114/2024 ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và Cục THADS tỉnh G và 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000607 ngày 10-6-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
(Toàn bộ các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng số 114/2024 ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và Cục THADS tỉnh G)
6. Về án phí: Xử buộc bị cáo Dương Bá C, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Anh T3, Lê Bá T5, Siu Tấn T6, Nguyễn Anh D1, Vũ Nguyễn Đình C1 và Võ Ngọc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
7. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị cáo dưới 18 tuổi, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.
Nếu người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 33/2024/HSST-CTN ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 33/2024/HSST-CTN
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Có bị hại là người Trung Quốc
