Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 33/2024/HSST

Ngày 23/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Hoàng Văn Hải

Ông Hoàng Văn Cường

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Mỹ Dung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Thanh H

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 28 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2024/QĐHPT – HS ngày 10/7/2024 đối với:

  1. Bị cáo: Trần Minh H1; Sinh ngày 06/10/2002 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn H2 và con bà Bùi Thị N; Bị cáo có vợ là Hà Thị T và có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến ngày 07/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị cáo: Nguyễn Văn T1; Sinh ngày 10/10/1992 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và con bà Lê Thị H3; Bị cáo có vợ là Lê Thị L và có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 15/01/2014 bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 14/5/2015. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến ngày 07/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
  3. Bị cáo: Nguyễn Văn V; Sinh ngày 09/02/2002 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ1 và con bà Nguyễn Thị H4; Bị cáo có vợ là Mai Thị G, chưa có con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến ngày 07/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
  4. Bị cáo: Nguyễn Văn T2; Sinh ngày 23/02/2003 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn T3 và con bà Ngô Thị T4; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 15/11/2022 bị Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” thời gian thử thách là 48 tháng, hiện đang chấp hành án tại địa phương; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/4/2024, tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Vũ Văn G1, sinh năm 1990.

Địa chỉ: thôn A, T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

* Người làm chứng:

  1. Trần Thị L1, sinh năm 1993. Vắng mặt
  2. Địa chỉ: thôn A, T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Mai Văn T5, sinh năm 1998. Vắng mặt
  4. Địa chỉ: thôn C, B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Anh Bùi Văn Q, sinh năm 2005. Vắng mặt
  6. Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

  7. Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1994. Vắng mặt
  8. Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

  9. Anh Trương Văn B, sinh năm 1993. Vắng mặt
  10. Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quan hệ quen biết với anh Nguyễn Văn D (tên gọi khác: Dũng B1, sinh năm: 1988, trú tại thôn L, xã H, huyện H) và được anh D kể về việc anh Vũ Văn G1 (sinh năm: 1990, trú tại thôn A T, xã H, huyện H) đang nợ tiền anh D nhưng không trả. Do đó, Trần Minh H1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 đã nhiều lần tự ý đi tìm anh G1 để hỏi tiền nợ nhưng anh G1 đều tránh mặt. Trần Minh H1 đã nhờ anh Mai Văn T5, sinh ngày 12/01/1998, trú tại xã H, H để ý và nếu nhìn thấy anh Vũ Văn G1 thì gọi điện thoại cho Trần Minh H1 biết.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, trong lúc Trần Minh H1 đang ngồi uống bia với Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn V, anh Bùi Văn Q1, sinh năm 1990 và anh Bùi Văn S (tên gọi khác là Sự T7, sinh năm 1994) cùng trú tại thôn T, xã H, huyện H, thì H1 nhận được điện thoại của anh T5 gọi nói “thấy anh G1 đang ở quán bi a”, nghe xong H1 nói “tý nữa tao xuống mày dẫn tao đến quán nhé”, anh T5 đồng ý. Sau đó, H1 nói với V và T2 đang ngồi bên cạnh “tìm thấy thằng G1 rồi, giờ anh em xuống đưa nó về đây nói chuyện”, nghe xong V đồng ý, còn T2 nói “cho em đi theo với”. Lúc này, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô BKS 36B7-293.16 chở theo H1 và T2 ngồi sau đi đến khu vực Trường Trung học cơ sở xã M, trên đường đi nghĩ đến việc đi xe mô tô thì không chở anh G1 được nên H1 đã gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T1 nói “anh ơi tìm thấy thằng G1 rồi, anh lấy xe ô tô chở bọn em xuống đưa nó về”, T1 trả lời “chúng mày đang ở đâu”, H1 trả lời lại “bọn em đang đứng ở trường C”, T1 nói “đợi anh ít phút”. Sau đó, T1 gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn D hỏi mượn xe ô tô thì anh D đồng ý (anh D không biết mục đích T1 mượn xe ô tô để làm gì) và T1 đến quán B2 ở thôn M, xã M, huyện H mượn được chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36A - 755.86 của anh D. Sau đó, T1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A - 755.86 đến Trường Trung học cơ sở M đón V ngồi ở ghế phụ, còn H1 và T2 ngồi ở ghế sau cùng nhau đi tìm để đưa anh Vũ Văn G1 về nói chuyện về việc nợ tiền nhưng không trả.

Khi đi trên xe ô tô, H1 nói “lát xuống quán bi a rồi đưa nó lên xe ô tô chở xuống biển nói chuyện” (ý nói đưa anh G1 vào xe ô tô rồi chở xuống biển để nói chuyện) thì T1, T2V đồng ý. Khi đi đến cây xăng H, thôn H, xã H, huyện H thì H1 gọi điện thoại cho anh Mai Văn T5 đi xe mô tô đến chở theo Nguyễn Văn T8, sinh năm 1999, trú tại thôn B B, xã H, huyện H ngồi phía sau và dẫn đường cho nhóm của H1 đi đến quán B2 ở thôn H, xã H. Khi đến quán B2, anh Mai Văn T5 và anh Nguyễn Văn T8 đi chơi luôn, còn T1 dừng xe ô tô trước cửa quán B2 (xe ô tô vẫn nổ máy), T2 đeo khẩu trang và chùm mũ áo lên đầu (mục đích không để ai nhận ra). Sau đó, T1, V, H1T2 đi vào trong quán và đi lại bàn bi a gần phía trong cùng nơi anh G1 đang chơi. Khi đến chỗ anh G1, thì H1, VT1 nói “Đi. Đi vào xe ô tô nói chuyện”, vừa nói, T1 vừa dùng tay kéo anh G1 đi, khi anh G1 túm tay vào bàn bi a không đi, thì T1 dùng tay đấm 01 (một) cái vào vùng lưng của anh G1, còn H1 dùng tay tát 02 (hai) cái vào vùng mặt của anh G1 với mục đích để đe dọa anh G1 và buộc anh G1 phải đi theo nhóm của H1.

Lúc này, anh G1 nói lại “có con anh, có con anh”, T1 dùng tay ôm vai và cổ bên phải anh G1 kéo đi, còn V ôm cánh tay bên trái của anh G1 kéo ra xe ô tô, H1 chỉ tay 02 (hai) lần về phía con anh G1 nhằm ra hiệu cho T2 biết, mục đích là để T2 bế con anh G1 đi theo ra xe ô tô đưa cho anh G1. Ngay sau đó T2 đi lại ôm cháu Vũ Đình Minh K, sinh năm 2022, là con trai của anh G1 đang ngồi trên ghế đi ra xe ô tô. Khi ra đến cửa quán thì T1 mở cửa bên lái của xe ô tô để lên điều khiển xe ô tô, V mở cửa sau bên phụ ra rồi kéo, đẩy anh G1 vào trong xe ô tô và cũng vào ngồi cạnh anh G1, T2 đưa con cho anh G1 bế và đi vào ngồi cạnh anh G1, VT2 ngồi hai bên để kiểm soát, giữ anh G1, còn H1 ngồi ghế trên bên phụ với mục đích là chở anh G1 xuống dưới vùng biển để nói chuyện.

Khi ngồi trên xe ô tô, anh G1 xin và nói với cả nhóm là “cho anh đưa thẳng nhỏ về nhà trước”, thì cả nhóm đồng ý để cho cháu Vũ Đình Minh K về nhà trước và yêu cầu sau khi cho con về nhà thì anh G1 phải đi theo các bị cáo xuống vùng biển. Sau đó, T1 điều khiển xe ô tô đi đến trước cửa quán bán mỹ phẩm của gia đình anh G1thôn T, xã H, huyện H thì dừng xe lại, T2 mở cửa ô tô xuống xe, anh G1 bế con xuống xe đứng đợi vợ ra mở cửa trước nhà, đồng thời T2V đứng ngay phía sau, sát người anh G1 mục đích là để giữ anh G1 trong phạm vi kiểm soát, không cho anh G1 bỏ chạy, còn T1V lúc này cũng ra khỏi xe ngồi trước nhà anh G1. Khi anh G1 đưa cháu bé vào trong nhà thì cả nhóm yêu cầu anh G1 lên xe ô tô đi cùng nhưng anh G1 xin để gọi điện thoại (anh G1 gọi điện thoại cho nhiều người nhằm mục đích tác động với anh Nguyễn Văn D để khất nợ). Đến khoảng 20 giờ 55 phút cùng ngày, do đợi lâu mà không thấy anh G1 đi cùng nên T1 nói với cả nhóm “Vào gọi nó ra” nên T2V đi vào trong quán nhưng anh G1 vẫn đang gọi điện thoại, lúc này vợ anh G1 đi ra nói “Anh không phải đi đâu cả, ở nhà”, cả nhóm vẫn tiếp tục đứng trước cửa nhà anh G1. Khoảng 20 phút sau, anh G1 vẫn đứng gọi điện nên T1 đã dùng chân đạp 01 (một) cái vào anh G1 làm cho anh G1 ngã xuống đường, anh G1 đứng dậy bỏ chạy, cùng lúc này tại khu vực nhà anh G1 mất điện, thì vợ anh G1 hô to, kêu người dân xung quanh gọi Công an nên H1, T1, T2V lên xe ô tô bỏ về.

Đến ngày 03/4/2024, Trần Minh H1, Nguyễn Văn T1Nguyễn Văn V đã tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú, khai báo về hành vi phạm tội của mình. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T2.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Minh H1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 nhưng không thu giữ được gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 2175/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Các video Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu thập trong vụ án kết luận: “Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 12 (mười hai) tệp video của 04 (bốn) đĩa DVD-R gửi giám định."

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda City màu trắng biển kiểm soát 36A - 755.86 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Vũ Văn G1 không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT -VKSHL ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố các bị cáo Trần Minh H1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Minh H1 từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn V từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 06 đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 40/2022/HSST ngày 15/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc chuyển thành án giam. Tổng hợp chung là 30 đến 33 tháng tù. Trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/6/2022 đến ngày 23/6/2022 của Bản án số 40/2022/HSST ngày 15/11/2022. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 03/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận và trong lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng được thu thập trong hồ sơ vụ án, kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/4/2024, Trần Minh H1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 đã bắt anh Vũ Văn G1 ở quán B2 tại thôn H, xã H, huyện H. Sau đó, Trần Minh H1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 đã đánh và khống chế đưa anh Vũ Văn G1 lên xe ô tô biển 36A - 755.86 giữ và chở về nhà anh Vũ Văn G1 ở thôn A T, xã H, huyện H giữ trong thời gian khoảng 20 phút. Đến khoảng 20 giờ 55 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T1 đã đạp anh Vũ Văn G1 01 cái làm anh G1 bị ngã, anh G1 lợi dụng các bị cáo sơ hở nên đã bỏ chạy được. Mặc dù các bị cáo thực hiện hai hành vi bắt, giữ người khác trái quy định của pháp luật nhưng hành vi bắt người và hành vi giữ người có liên quan chặt chẽ với nhau, hành vi này là tiền đề cho hành vi kia vì vậy, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì hành vi của các bị cáo chỉ bị xử lý trong cùng một điều luật của tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự;

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố các bị cáo Trần Minh Hiếu Nguyễn Văn T9, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3]. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến quyền tự do về thân thể mà còn gây hoang trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục các bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.

Trong vụ án này, mặc dù có nhiều người cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự câu kết chặt chẽ với nhau mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Trần Minh H1 là người rủ rê, khởi sướng các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nên có vị trí, vai trò thứ nhất. Bị cáo Nguyễn Văn T9 là người điều khiển xe ô tô, đấm và ôm cổ bắt anh G1 ra xe ô tô để chở về nhà giữ nên có vị trí, vai trò thứ hai. Bị cáo Nguyễn Văn V sử dụng tay ôm, bắt anh G1 ra xe ô tô và canh giữ anh G1 nên có vị trí, vai trò thứ ba. Bị cáo Nguyễn Văn T2 đã tiếp nhận ý chí, cùng thực hiện hành vi canh giữ anh G1 nên có vị trí, vai trò cuối cùng trong vụ án.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Minh H1; Nguyễn Văn T9Nguyễn Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Đối với bị cáo Nguyễn Văn Thường n 15/11/2022 bị Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” thời gian thử thách là 48 tháng, bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy đinh tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Đối với Trần Minh H1; Nguyễn Văn T9Nguyễn Văn V trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo Nguyễn Minh H5Nguyễn Văn V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội các bị cáo đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện H để đầu thú, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Trần Minh H1, Nguyễn Văn T9Nguyễn Văn V được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i(đối với H1 và V), s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 trong quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra bị cáo chưa thành khẩn khai báo vì lý do bị cáo đang chấp hành Bản án cho hưởng án treo nên bị cáo có tâm lý lo sợ, nhưng sau đó tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình và đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.

Các bị cáo Trần Minh H1Nguyễn Văn V có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo Nguyễn Văn T9 mặc dù có nhân thân về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng bị cáo đã được xoá án tích và hành vi phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự và theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTPTANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/ NQHĐTPTANDTC ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTPTANDTC ngày 15/5/2018 cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 mặc dù lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và là vai trò thứ yếu trong vụ án nhưng bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên phải áp dụng hình phạt là tù giam để tổng hợp với Bản án số 40/2022/HSST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã cho hưởng án treo chuyển thành án giam theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, anh Vũ Văn G1 không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

[7]. Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda City màu trắng biển kiểm soát 36A - 755.86 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ hữu là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[8]. Về án phí: Các bị cáo Trần Minh Hiếu Nguyễn Văn T9, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

  • Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Trần Minh H1Nguyễn Văn V.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn T9.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của BLHS đối với Nguyễn Văn T2.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Minh H1; Nguyễn Văn T9; Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H1: 12 (Mười hai ) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T9: 10 ( Mười ) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V: 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T2: 07 ( Bảy ) tháng tù. Tổng hợp với 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích của Bản án số 40/2022/HSST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành 31 (Ba mươi mốt) tháng tù. Được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/6/2022 đến ngày 23/6/2022 của Bản án số 40/2022/HSST ngày 15/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 03/4/2024.

Giao các bị cáo Trần Minh H1, Nguyễn Văn T9Nguyễn Văn V cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Minh H1, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Văn VNguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa.
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Hậu Lộc.
  • - Công an huyện Hậu Lộc.
  • - THA hình sự huyện Hậu Lộc.
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc.
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa.
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lường Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về hình sự - tội bắt, giữ người trái pháp luật

  • Số bản án: 33/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Bắt, giữ người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Hiếu cùng đồng phạm bắt, giữ người trái quy định của pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger