|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNST Ngày: 23/5/2024 V/v "Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-HN ngày 25 tháng 01 năm 2024. Về việc: "Xin ly hôn".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2024/QĐST-HN ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Tấn T sinh năm 1993 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Bích N sinh năm 1983 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: A, X, phường A (nay là T), quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày:
Ông và bà N tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới. Ông bà đăng ký kết hôn ngày 27/9/2018 tại Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian về sau vợ chồng sống không hòa hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Ông bà đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Giữa ông và bà N không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với bà Phạm Thị Bích N.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông bà có 01 con chung Phan Khả M (nữ) sinh ngày 12/11/2018. Khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu bà Phạm Thị Bích N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 26/02/2024 bị đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Phan Tấn T.
- Về con chung: Bà đồng ý giao con chung Phan Khả M (nữ) sinh ngày 12/11/2018 cho ông Phan Tấn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn xin giải quyết vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Về sự vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Tấn T và bà Phạm Thị Bích N xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được UBND phường A, quận N, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/9/2018. Do vậy hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được cho nên giữa giữa ông T và bà N không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Ông T và bà N ly thân từ năm 2019 đến nay. Ông T nhận thấy tình cảm giữa ông và bà N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại bản tự khai ngày 26/02/2024 bà N đồng ý ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy giữa ông T và bà N mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên thống nhất cho ông T ly hôn với bà N theo quy định Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung và vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Ông bà thống nhất có 01 con chung Phan Khả M (nữ) sinh ngày 12/11/2018. Khi ly hôn ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Bà N đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, ông T là người trực tiếp nuôi con từ khi sinh ra đến nay. Sau khi ông T và bà N ly thân cháu M sống cùng ông T cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T được trực tiếp chăm sóc, nuôi con chung trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Con chưa thành niên các bên đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nên dành quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho bà N không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, khi người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà N thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do xét xử vắng mặt ông T và bà N không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Phan Tấn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0000711 ngày 26/12/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đã thu sang thành án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Phan Tấn T được ly hôn với bà Phạm Thị Bích N.
- Về con chung: Giao cháu Phan Khả M (nữ) sinh ngày 12/11/2018 cho ông Phan Tấn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà Phạm Thị Bích N không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phan Tấn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0000711 ngày 26/12/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đã thu sang thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho bà Phạm Thị Bích N không ai được quyền ngăn cản.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 33/2024/HNST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về xin ly hôn
- Số bản án: 33/2024/HNST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
