|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-5-2024 V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Văn Điền
- - Bà Võ Thị Diễm Kiều
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hôn nhân thụ lý số: 76/2024/TLST-HN ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 giửa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Liễu T, sinh năm 1999
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thiết T1, sinh năm 1993
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 04 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị Liễu T trình bày: Tôi với anh Nguyễn Thiết T1 quen biết nhau và được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới năm 2014, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ ngày 03/4/2017. Sau khi cưới vợ chồng sống chung cha mẹ chồng có hạnh phúc. Đến năm 2016 thì vợ phát sinh mâu thuẩn do anh T1 thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện và tính tình không còn hợp nhau nửa. Đến tháng 11/2023 tôi về nhà mẹ ruột sống ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Thiết T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 11/8/2015 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 16/12/2016 hiện đang sống chung với anh T1. Sau khi ly hôn tôi đồng ý cho anh T1 được tiếp tục nuôi dưỡng, nếu con muốn sống với tôi thì tôi đồng ý nuôi con, không cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Nguyễn Thiết T1 trình bày: Tôi với chị Phạm Thị L Thuyền quen biết nhau và được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới năm 2014, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ ngày 03/4/2017. Sau khi cưới vợ chồng sống chung cha mẹ ruột có hạnh phúc. Trước đây, tôi cũng có uống rượu và đi làm sáng đi chiều về. Đến tháng 11/2023 tôi không biết lý do gì vợ tôi bỏ về nhà mẹ ruột sống ly thân từ đó đến nay tôi có nhiều lần kêu về nhưng vợ không chịu về. Nay tôi không đồng ý ly hôn lý do tôi còn tình cảm với vợ và các con còn nhỏ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 11/8/2015 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 16/12/2016 hiện đang sống chung với tôi và cha mẹ ruột tôi. Nếu Toà án giải quyết cho ly hôn thì tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con.
Về tài sản chung, về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của con Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị Trà M cùng có lời trình bày: các con là con ruột của cha tên Nguyễn Thiết T1 và mẹ tên Phạm Thị Liễu T, hiện nay cha mẹ không còn sống chung với nhau các con đang ở với cha và bà nội nếu cha mẹ ly hôn thì các con xin được tiếp tục sống với cha tên Nguyễn Thiết T1 để thuận tiện đi học.
Tại phiên toà, anh Nguyễn Thiết T1 thống nhất đồng ý ly hôn với yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Liễu T nhưng yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị Trà M mỗi đứa 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chị Phạm Thị Liễu T chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị Trà M mỗi đứa 500.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi.
Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, tại phiên toà, anh Nguyễn Thiết T1 thống nhất đồng ý ly hôn với yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Liễu T, do đó đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giửa chị T với anh T1 và chấp nhận đề nghị của anh T1 về yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị Trà M mổi đứa 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi và buộc chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ đơn khởi kiện của chị Phạm Thị L Thuyền xin ly hôn với anh Nguyễn Thiết T1 có địa chỉ ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Xác định quan hệ pháp luật của vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Liễu T với anh Nguyễn Thiết T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 03 tháng 4 năm 2017 đã xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3] Trong quá trình tham gia tố tụng, chị Phạm Thị L Thuyền xin được ly hôn với anh Nguyễn Thiết T1 với lý do chị T với anh T1 không còn hạnh phúc, nguyên nhân trong thời gian sống chung anh T1 thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện xúc phạm chị T nên chị T bỏ về nhà mẹ ruột sống từ tháng 11/2023 cho đến nay. Anh Nguyễn Thiết T1 cũng thừa nhận vì tính chất công việc bản thân thường có uống rượu với người làm chung về trễ, việc chị T bỏ về nhà mẹ ruột sống anh T1 không biết ly do gì nhưng sau đó phát hiện chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác nhưng anh T1 cũng bỏ qua. Lúc đầu anh T1 cũng muốn cùng vợ để hàn gắn lại cùng nhau lo cho con nhưng đến nay chị T không chịu về hàn gắng gia đình nên anh T1 cũng thống nhất đồng ý ly hôn với chị T.
[5] Qua xác minh chính quyền địa phương và gia đình hai bên. Thấy rằng, sau khi cưới vợ chồng chị T và anh T1 sống rất hạnh phúc, anh T1 thì đi làm thợ nhôm còn chị T buôn bán quán nước, đến khoảng năm 2016 thì vợ chồng chị T và anh T1 bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do anh T1 thiếu sự quan tâm đến chị T, thường hay bỏ nhà đi uống rượu với bạn bè đồng nghiệp về nhà kiếm chuyện với chị T kéo dài đến tháng 11/2023 thì chị T bỏ về nhà mẹ ruột sống cho đến nay, vợ chồng sống ly thân với nhau, mỗi người một nơi. Trong quá trình tham gia hoà giải, Toà án đã nhiều lần động viên và cho thời gian nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng chị T và anh T1 nhưng đến nay vợ chồng chị T và anh T1 vẫn không thể quay lại sống hạnh phúc với nhau. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế, vợ chồng anh T1, chị T đã không còn sống với nhau, không mang lại hạnh phúc cho nhau, không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm cho nhau, mâu thuẫn giữa vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng. Tại phiên toà hôm nay, anh T1 với chị T hai bên đồng ý tự nguyện thuận tình ly hôn. Như vậy nếu tiếp tục hàn gắn quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Từ những cơ sở trên, nghỉ nên chấp nhận ý kiến của V đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giửa chị Phạm Thị Liễu T với anh Nguyễn Thiết T1.
[6] Xét về con chung: Tại phiên toà hôm nay, chị T và anh T1 xác định có 02 người con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 11/8/2015 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 16/12/2016 hiện hai con đang sống chung với anh T1 cùng với cha mẹ ruột anh T1. Chị T và anh T1 thống nhất với nhau sau ly hôn thì anh T1 được quyền tiếp tục nuôi hai con Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị Trà M. Hội đồng xét xử xét thấy sự thoả thuận này phù hợp với điều kiện sinh hoạt, học tập của con và nguyện vọng của hai con không trái pháp luật nên cần được ghi nhận. Đồng thời, chị T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã giải thích cho anh T1 về quyền lợi của con có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và giải thích nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con. Do đó, anh T1 yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị Trà M mổi đứa 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chị Phạm Thị Liễu T chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị Trà M mổi đứa 500.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Xét thấy, anh T1 yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107, khoản 1 Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét mức cấp dưỡng mà anh T1 yêu cầu là hợp lý, phù hợp với chi phí thực tế để nuôi dưỡng hai con nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cho anh T1 mỗi tháng 2.000.000 đồng, trong đó cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Trung H là 1.000.000 đồng và nuôi con Nguyễn Thị Trà M là 1.000.000 đồng. Chị T2 đồng ý cấp dưỡng nhưng với mức mỗi tháng 1.000.000 đồng cho 02 con là không phù hợp theo các chi phí thực tế phát sinh mà lẽ ra chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con, chị T cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh hiện tại đang thất nghiệp, tình trạng kinh tế gặp khó khăn nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
[8] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Chị T và anh T1 xác định số nữ trang cưới gồm 06 chỉ vàng 24Kra vợ chồng đã bán tiêu xày sinh hoạt trong gia đình hiện nay không còn. Vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
[9] Về án phí: Chị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và anh T1 phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều Căn cứ vào các Điều 33, 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Liễu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giửa chị Phạm Thị Liễu T với anh Nguyễn Thiết T1. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17 ngày 03 tháng 4 năm 2017 được Ủy ban nhân dân xã Đ cấp cho chị Phạm Thị Liễu T và anh Nguyễn Thiết T1 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị T và anh T1, thống nhất cho anh T1 được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 người con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 11/8/2015 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 16/12/2016. Chị T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cho anh T1 mỗi tháng 2.000.000 đồng (Trong đó, cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Trung H là 1.000.000 đồng và Nguyễn Thị Trà M là 1.000.000 đồng) cho đến khi hai con tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án 23/5/2024. Các bên được quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Chị T và anh T1 khai không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Liễu T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng do chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002364 ngày 18 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Chị T còn phải nộp tiếp 300.000 đồng.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn. Chị Phạm Thị Liễu T và anh Nguyễn Thiết T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giửa chị Phạm Thị Liễu Thuyền với anh Nguyễn Thiết Tâm
