Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-PT

Ngày 23-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Ông Vũ Duy Luân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 188/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo Phạm Thị N và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị N, Đặng Tiến Đ, Phạm Văn T1, Đặng Văn T2, Trần Văn T3, Lương Văn K, Trần Ân T4 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 176/2023/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

* Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Thị N, sinh ngày 14/12/1977; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Thôn G, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T5 (đã chết) và bà Bùi Thị K1; Có chồng là Phạm Đình H và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2007.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56 QĐ/XPVPHC ngày 03/10/2006 của Công an huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Thị N 1.500.000 đồng về hành vi “Tổ chức đánh bạc”, đã chấp hành xong ngày 03/10/2006.

    Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 232 QĐ/XPVPHC ngày 22/12/2009 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Thị N 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong ngày 23/12/2009.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 22/6/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

  2. Đặng Tiến Đ, sinh ngày 16/11/1990; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T6 và bà Nguyễn Thị H1; Có vợ là Nguyễn Thị H2 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 252/QĐ-UBND ngày 02/3/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Tiến Đ 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 02/3/2020.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 19/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

  3. Phạm Văn T1, sinh ngày 10/9/1990; Nơi cư trú: Số nhà B, khu T, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn P và bà Vũ Thị M; Có vợ là Trần Thị Thúy L và có 02 con đều sinh năm 2020.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 81/XPVPHC ngày 15/8/2006 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Văn T1 hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản” (chưa đủ 16 tuổi).

    Bản án số 46/2012/HSST ngày 13/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Văn T1 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, hình phạt bổ sung ngày 12/02/2015.

    Bản án số 60/2017/HSST ngày 12/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt Phạm Văn T1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong thời gian thử thách ngày 12/7/2018. Đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, hình phạt bổ sung ngày 06/02/2018.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

  4. Phạm Văn D, sinh ngày 20/01/1980; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đức T7 và bà Phạm Thị S; Có vợ là Lê Thị Tường V và có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 65/2014/HSST ngày 29/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Văn D 30.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành hình phạt tiền, án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/5/2017.

    Bản án số 60/2017/HSST ngày 12/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt Phạm Văn D 15 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, hình phạt bổ sung ngày 02/02/2018. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/5/2018.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

  5. Đặng Văn T2, sinh ngày 30/8/1976; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1 (đã chết); Có vợ là Phạm Thị T8 và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2008.

    Tiền án:

    Bản án số 160/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Văn T2 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 27/11/2017, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 13/3/2019. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2018.

    Bản án số 144/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Văn T2 03 năm tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/12/2019, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 13/4/2020. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/02/2022.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    Quyết định xử phạt hành chính số 88 QĐ/XPVPHC ngày 04/3/2005 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Văn T2 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 09/03/2005.

    Bản án số 23/2010/HSPT ngày 14/5/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Văn T2 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 14/5/2014. Chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 13/6/2011, án phí hình sự sơ thẩm ngày 06/01/2011.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

  6. Trần Văn T3, sinh ngày 20/02/1981; Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Duy T9 và bà Trần Thị H3; Có vợ là Trần Thị D1 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    Quyết định xử phạt hành chính số 121/QĐ-XPVPHC ngày 29/09/2008 của Công an tỉnh T xử phạt Trần Văn T3 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 09/10/2008.

    Bản án số 65/2014/HSST ngày 29/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Văn T3 15.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt chính, án phí hình sự sơ thẩm ngày 08/4/2015.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

  7. Lương Văn K, sinh ngày 05/10/1955; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu tập thể X, tổ F, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở: Số nhà G, đường L, tổ E, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Đình T10 (đã chết) và bà Vũ Thị T11 (đã chết); Có vợ là Mai Thị B và có 02 con, con lớn sinh năm 1978, con nhỏ sinh năm 1982.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 14/QĐ/XPVPHC ngày 12/12/2016 của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình xử phạt Lương Văn K 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 20/2/2017.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 17/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

  8. Trần Ân T4, sinh ngày 12/4/1969; Nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ân T12 (đã chết) (ông T12 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì) và bà Trần Thị L (đã chết); Có vợ là Trần Thị N1 và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    Bản án số 25/2021/HSST ngày 04/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Ân T4 20.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành hình phạt tiền, án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/8/2021.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 19/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.

Trong vụ án còn có các bị cáo Bùi Văn N2, Trần Văn T13, Nguyễn Đức N3, Trần Văn T14, Nguyễn Thị T15, Hoàng Đức Đ1, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Thành P1 không kháng cáo, không bị kháng nghị và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Đình H, anh Trần Văn A không kháng cáo Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 16/03/2023, Nguyễn Thị T15, Bùi Văn N2, Đặng Văn T2, Phạm Văn D, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Đức N3, Trần Văn T13, Trần Văn T14, Lương Văn K, Phạm Văn T1, Trần Văn T3, Hoàng Đức Đ1, Đặng Tiến Đ, Nguyễn Thành P1, Trần Văn A, đến nhà Phạm Thị N ở thôn G, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình để chơi và bàn về việc đi lễ hội. Trong lúc ngồi nói chuyện với nhau tất cả cùng rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức đánh xóc đĩa tại nhà N. Thấy các đối tượng rủ nhau đánh bạc tại nhà mình thì N đã đồng ý cho mọi người chơi, sau đó N ra khóa cửa xếp lối lên tầng 2 và khóa cửa phòng lại rồi ngồi trông coi cho các đối tượng đánh bạc. Khi lên phòng trên tầng 2 nhà N, thấy có bộ bài tú lơ khơ, T13 lấy một quân bài chất cơ rồi dùng kéo có sẵn ở đó cắt 04 quân vị hình tròn, bỏ vào bộ bát đĩa có sẵn tại nhà N để tại thảm xốp. Lúc này do không mang theo tiền nên P1 nhận xóc cái cho mọi người tham gia đánh bạc.

Luật chơi các đối tượng quy định như sau: P1 là người xóc cái, cách đặt cửa theo nguyên tắc chẵn phải lẻ trái, nghĩa là nếu người chơi đặt cửa chẵn thì đặt số tiền muốn cược về phía bên phải người xóc cái gọi là chẵn phải. Còn nếu người chơi đặt cửa lẻ thì đặt số tiền muốn cược về phía bên trái người xóc cái, gọi là lẻ trái, ở giữa là bộ B1. Khi mở bát, nếu số lượng quân vị cùng màu là số chẵn (2 hoặc 4) thì ván đó về cửa chẵn, còn nếu có 03 quân vị cùng màu thì ván đó về cửa lẻ. Nếu người chơi nào đặt tiền trùng với cửa đã về thì sẽ thắng được số tiền tương ứng số tiền đã đặt, ngược lại nếu người chơi nào đặt tiền không trùng với cửa đã về thì sẽ bị thua hết số tiền đã đặt, mức đặt tiền thấp nhất là 100.000 đồng, không giới hạn về số tiền đặt cược. Việc thu tiền và trả tiền cho người đánh bạc sẽ do người cầm cái tự thu và trả tiền. Trong các ván chơi, N2 thường là người đứng ra làm cái để thanh toán tiền thắng thua cho người chơi, thỉnh thoảng có người khác đứng ra làm cái nhưng không xác định được cụ thể là ai. Cứ như vậy sau khi thanh toán xong thì bắt đầu ván mới. Khi bắt đầu vào đánh bạc được một vài ván thì N đi lên tầng hai và nói “Đóng tiền hồ là tiền người chơi phải trả cho chủ nhà để được đánh bạc. Lúc này có Nguyễn Đức N3, Trần Văn T14, Phạm Văn D, Đặng Văn T2, Bùi Văn N2, Phạm Văn T1, Đặng Tiến Đ mỗi người bỏ ra 500.000 đồng đặt dưới thảm. Thấy N đứng phía sau mình nên T3 cầm số tiền hồ đưa cho N cất vào túi quần. Sau khi thu tiền hồ, N ngồi tại tầng hai và lấy từ số tiền các đối tượng đóng hồ chơi một ván với số tiền 100.000 đồng. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày thì Trần Ân T4 đến. N mở cửa xếp cho T4 vào tham gia đánh bạc rồi khóa cửa lại đi lên tầng hai ngồi tại chỗ đánh bạc. Trong quá trình các đối tượng đánh bạc, Trần Văn A có mặt tại nơi đánh bạc nhưng không tham gia chơi đánh bạc mà chỉ ngồi xem. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày thì N2 và Đ nghỉ không chơi nữa, lúc này N2 thắng tiền nên có cho P1 1.000.000 đồng. P1 cầm 1.000.000 đồng N2 đưa sau đó cho lại Trần Văn A 500.000 đồng. Khi N2 và Đ đi xuống tầng một thì tổ công tác Công an thành phố T đến kiểm tra, lúc này có chồng N là anh Phạm Đình H đi từ ngoài vào nhà. Thấy bị kiểm tra các đối tượng đã cất hết tiền vào trong người, làm vỡ bộ bát đĩa sử dụng để đánh bạc.

Tổ công tác đã thu tại phòng các đối tượng đánh bạc: 01 bảng vị bị xé nát; 17 tấm thảm xốp màu vàng kích thước (50x50)cm; 01 bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng, đã bị vỡ; 12 chiếc ghế nhựa (11 đỏ, 01 xanh); 01 chăn bằng vải lông in hình con mèo màu hồng - vàng - đỏ, kích thước (1x1,2)m; 01 bộ bài tú lơ khơ 51 quân.

Quản lý trên người các đối tượng gồm: Nguyễn Thị T15 số tiền 9.630.000 đồng; Trần Văn T3 số tiền 48.080.000 đồng; Lương Văn K số tiền 1.630.000 đồng; Nguyễn Đức N3 số tiền 22.480.000 đồng; Nguyễn Văn S1 số tiền 4.470.000 đồng; Trần Ân T4 số tiền 200.000 đồng; Trần Văn T14 số tiền 14.500.000 đồng; Phạm Văn D số tiền 5.500.000 đồng; Trần Văn T13 số tiền 19.400.000 đồng; Đặng Văn T2 số tiền 4.200.000 đồng; Bùi Văn N2 số tiền 90.000.000 đồng; Đặng Tiến Đ số tiền 3.000.000 đồng; Nguyễn Thành P1 số tiền 500.000 đồng; Phạm Thị N số tiền 4.700.000 đồng; Phạm Đình H số tiền 20.000.000 đồng; Trần Văn A số tiền 1.980.000 đồng.

Số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc, được thua cụ thể như sau:

  • Phạm Thị N không mang theo tiền trong người. Nguyệt thu tiền hồ được 3.500.000 đồng, N lấy 100.000 đồng chơi một ván và bị thua. Quá trình chơi và khi bị bắt giữ, N nhặt tại nền nhà 1.300.000 đồng của người chơi làm rơi và cất vào trong người. Khi Cơ quan Công an đã kiểm tra đã quản lý trên người Nguyệt số tiền 4.700.000 đồng.
  • Trần Văn T3 mang đi 10.080.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, T3 có 48.080.000 đồng. Như vậy T3 đã thắng 38.000.000 đồng.
  • Lương Văn K mang đi 5.630.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để dánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, K còn 1.630.000 đồng. Như vậy K đã thua 4.000.000 đồng.
  • Trần Ân T4 mang đi 700.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, T4 còn 200.000 đồng. Như vậy T4 đã thua 500.000 đồng.
  • Phạm Văn D mang đi 12.500.000 đồng, đóng tiền hồ cho N 500.000 đồng và sử dụng số tiền 12.000.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, D còn 5.500.000 đồng. Như vậy D đã thua 6.500.000 đồng.
  • Đặng Văn T2 mang đi 250.000 đồng, được T13 trả nợ 5.000.000 đồng, và Thường vay của N2 5.000.000 đồng, đóng tiền hồ cho N 500.000 đồng, số tiền T2 sử dụng đánh bạc là 9.750.000 đồng. Khi lực lượng Công an kiểm tra, T2 còn 4.200.000 đồng. Như vậy T2 đã thua 5.550.000 đồng.
  • Đặng Tiến Đ mang đi 20.000.000 đồng, đóng tiền hồ cho N 500.000 đồng và sử dụng 19.500.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra Đ còn 3.000.000 đồng. Như vậy Đ đã thua 16.500.000 đồng.
  • Phạm Văn T1 mang đi 13.100.000 đồng, đóng tiền hồ cho N 500.000 đồng và sử dụng 12.600.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, T1 không còn tiền trong người. Như vậy T1 đã thua 12.600.000 đồng.
  • Nguyễn Thị T15 mang đi 20.030.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, T15 còn 9.630.000 đồng. Như vậy T15 đã thua 10.400.000 đồng.
  • Nguyễn Đức N3 mang đi 22.080.000 đồng, đóng tiền hồ cho N 500.000 đồng, số tiền còn lại 21.580.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, N3 có 22.480.000 đồng. Như vậy N3 đã thắng 900.000 đồng.
  • Nguyễn Văn S1 mang đi 5.070.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, S1 còn 4.470.000 đồng. Như vậy S1 đã thua 600.000 đồng.
  • Trần Văn T14 mang đi 22.000.000 đồng, đóng tiền hồ cho N 500.000 đồng và sử dụng số tiền 21.500.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, T14 còn 14.500.000 đồng. Như vậy T14 đã thua 7.000.000 đồng.
  • Trần Văn T13 mang đi 25.000.000 đồng, T13 trả nợ cho T2 5.000.000 đồng, sử dụng 20.000.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, T13 còn 19.400.000 đồng. Như vậy T13 đã thua 600.000 đồng.
  • Bùi Văn N2 mang đi 55.000.000 đồng, N2 cho T2 vay 5.000.000 đồng, đóng tiền hồ cho N 500.000 đồng và sử dụng 49.500.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, Nam có 90.000.000 đồng. Như vậy N2 đã thắng 40.500.000 đồng.
  • Hoàng Đức Đ1 mang đi 17.350.000 đồng, sử dụng 17.350.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an kiểm tra, Đ1 không còn tiền trong người. Như vậy Đ1 đã thua 17.350.000 đồng.
  • Nguyễn Thành P1 không mang theo tiền. P1 xóc cái giúp cho mọi người chơi đánh bạc. Khi kết thúc, N2 cho P1 1.000.000 đồng, P1 cho Trần Văn A 500.000 đồng. Số tiền còn lại 500.000 đồng Cơ quan Công an đã quản lý.

Như vậy tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 225.390.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 176/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quyết định:

1. Tuyên bố:

  1. Bị cáo Phạm Thị N phạm tội “Đánh bạc” và tội “Gá bạc”.
  2. Các bị cáo Đặng Văn T2, Nguyễn Đức N3, Nguyễn Thị T15, Bùi Văn N2, Phạm Văn D, Nguyễn Văn S1, Trần Văn T13, Trần Văn T14, Lương Văn K, Phạm Văn T1, Trần Văn T3, Hoàng Đức Đ1, Đặng Tiến Đ, Nguyễn Thành P1 và Trần Ân T4 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Hình phạt:

  1. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Đánh bạc. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  2. Áp dụng điểm b, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Gá bạc. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của 02 tội, xử phạt bị cáo Phạm Thị N 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 22/6/2023. Phạt bổ sung Phạm Thị N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  4. Áp dụng điểm b, d khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T2 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023. Phạt bổ sung Đặng Văn T2 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  5. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Tiến Đ 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 19/4/2023. Phạt bổ sung Đặng Tiến Đ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  6. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023. Phạt bổ sung Phạm Văn T1 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  7. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023. Phạt bổ sung Phạm Văn D 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  8. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T3 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023. Phạt bổ sung Trần Văn T3 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  9. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn K 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 17/4/2023. Phạt bổ sung Lương Văn K 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  10. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ân T4 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 19/4/2023. Phạt bổ sung Trần Ân T4 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt và hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Bùi Văn N2, Trần Văn T13, Nguyễn Đức N3, Trần Văn T14, Nguyễn Thị T15, Hoàng Đức Đ1, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Thành P1, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với các bị cáo.

Ngày 03/10/2023, bị cáo Phạm Thị N, Đặng Tiến Đ, Phạm Văn T1 kháng cáo xin giảm hình phạt; bị cáo Trần Văn T3, Lương Văn K kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 05/10/2023, bị cáo Trần Ân T4 kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 09/10/2023, bị cáo Đặng Văn T2, bị cáo Phạm Văn D kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2 rút toàn bộ kháng cáo. Các bị cáo Phạm Thị N, Đặng Tiến Đ, Trần Văn T3, Lương Văn K, Trần Ân T4 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã kết luận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo để có cơ hội sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Tiến Đ và Trần Văn T3. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 176/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về hình phạt đối với các bị cáo Đặng Tiến Đ và Trần Văn T3.
  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị N, sửa bản án sơ thẩm số 176/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, giảm hình phạt cho bị cáo Phạm Thị N 6 tháng tù về tội “Gá bạc” và 3 tháng tù về tội “Đánh bạc”
  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lương Văn K và Trần Ân T4, sửa bản án sơ thẩm số 176/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với các bị cáo Lương Văn K và Trần Ân T4.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2 rút toàn bộ kháng cáo, việc rút kháng cáo của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Vì vậy, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Thị N, Đặng Tiến Đ, Trần Văn T3, Lương Văn K, Trần Ân T4 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 16/03/2023, tổ công tác Công an thành phố T kiểm tra hành chính nhà Phạm Thị N ở thôn G, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình, phát hiện có các đối tượng tham gia đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh xóc đĩa, gồm có Nguyễn Thị T15, Bùi Văn N2, Đặng Văn T2, Phạm Văn D, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Đức N3, Trần Văn T13, Trần Văn T14, Lương Văn K, Phạm Văn T1, Trần Văn T3, Hoàng Đức Đ1, Đặng Tiến Đ, Nguyễn Thành P1, Trần Ân T4 và Phạm Thị N cùng tham gia chơi đánh bạc với nhau. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 225.390.000 đồng trong đó bị cáo N sử dụng 100.000 đồng, bị cáo Đ sử dụng 19.500.000 đồng, Trần Văn T3 sử dụng 10.080.000 đồng, Lương Văn K sử dụng 5.630.000 đồng và Trần Ân T4 sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Phạm Thị N thu tiền hồ của 07 người với tổng số tiền 3.500.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Phạm Thị N đã phạm tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 322 và phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo Lương Văn K, Trần Văn T3, Đặng Tiến Đ và Trần Ân T4 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy:

[3.1] Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bố đẻ bị cáo T4 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, bị cáo N tích cực ủng hộ các phong trào giúp đỡ bà con bị lũ lụt và ủng hộ địa phương trong công tác phòng chống dịch Covid nên bị cáo T4, N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị N đã nộp tiền phạt bổ sung 20.000.000 đồng theo biên lai số 0000603 ngày 29/01/2024, bị cáo Lương Văn K đã nộp tiền phạt bổ sung 7.000.000 đồng theo biên lai số 0000652 ngày 22/4/2024; bị cáo Đặng Tiến Đ đã nộp tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng theo biên lai số 0000653 ngày 22/4/2024; bị cáo Trần Ân T4 đã nộp tiền phạt bổ sung 5.000.000 đồng theo biên lai số 0000507 ngày 02/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình theo quyết định của bản án sơ thẩm. Do đó các bị cáo N, Đ, T4, K được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Đối với số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc như sau: Bị cáo N sử dụng 100.000 đồng, bị cáo T4 sử dụng 700.000 đồng, bị cáo K sử dụng 5.630.000 đồng, bị cáo Đ sử dụng 19.500.000 đồng, bị cáo T3 sử dụng 10.000.000 đồng. Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và xử phạt bị cáo Đặng Tiến Đ 01 năm 08 tháng tù, Trần Văn T3 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo Đ đã nộp tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm, tuy nhiên số tiền bị cáo Đ sử dụng vào việc đánh bạc là 19.500.000 đồng là cao hơn so với các bị cáo khác có kháng cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm không phát sinh tình tiết gì mới làm căn cứ để xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo Đặng Tiến Đ, Trần Văn T3.

[3.4] Bị cáo Lương Văn K đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc năm 2016, bị cáo Trần Ân T4 đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư xử phạt tiền về tội đánh bạc năm 2021, hai bị cáo có vai trò không đáng kể trong vụ án, bị cáo K sử dụng 5.630.000 đồng, bị cáo T4 sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc, số tiền hai bị cáo sử dụng để đánh bạc trong vụ án không lớn, bị cáo K bị xử phạt hành chính đến nay đã quá thời hạn được coi là xử phạt hành chính, bị cáo T4 bị kết án nhưng đã được xóa án tích, hai bị cáo K, T4 có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, hai bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền phạt bổ sung, chấp hành tốt các quy định, chính sách của địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, có thể tự cải tạo tại địa phương. Do đó hai bị cáo K, T4 có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3.5] Bị cáo N sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, số tiền sử dụng để đánh bạc của bị cáo N là ít nhất nên cần xem xét giảm hình phạt cho bị cáo N về tội “Đánh bạc” bằng với mức hình phạt của bị cáo K và T4 và bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét cho bị cáo giảm một phần hình phạt về tội “Gá bạc” như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình là có căn cứ.

[4] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Đặng Tiến Đ, Trần Văn T3 giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt của các bị cáo Đ, T3. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị N, Lương Văn K và Trần Ân T4, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo Phạm Thị N; giữ nguyên mức hình phạt, cho các bị cáo Lương Văn K, Trần Ân T4 được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với hai bị cáo K, T4 cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2 rút kháng cáo; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị N, Lương Văn K, Trần Ân T4 nên các bị cáo T1, D, T2, N, K, T4 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của các bị cáo bị cáo Đặng Tiến Đ, Trần Văn T3 không được chấp nhận nên các bị cáo Đ, T3 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2, bản án hình sự sơ thẩm số 176/2023/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có hiệu lực pháp luật đối với hình phạt của các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Tiến Đ, Trần Văn T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 176/2023/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về hình phạt của các bị cáo Đặng Tiến Đ và Trần Văn T3.
  3. Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm c (đối với bị cáo Phạm Thị N), điểm e (đối với bị cáo Lương Văn K, Trần Ân T4) khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị N, bị cáo Lương Văn K và Trần Ân T4, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 176/2023/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về hình phạt của bị cáo N và biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo K, T4.
  4. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị N 01 (một) năm tù về tội Đánh bạc.
    2. Áp dụng điểm b, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị N 01 (một) năm tù về tội Gá bạc.
    3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của 02 tội, xử phạt bị cáo Phạm Thị N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 22/6/2023.
    4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Tiến Đ 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam, tạm giữ từ ngày 17/3/2023 đến ngày 19/4/2023.
    5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 27/4/2023.
    6. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn K 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    7. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.
    8. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ân T4 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    9. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.
    10. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
  5. Về án phí: Áp dụng điểm b, g h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn D, Đặng Văn T2,Phạm Thị N, Lương Văn K, Trần Ân T4 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Đặng Tiến Đ, Trần Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 23/4/2024./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - CA, VKS, TA, CCTHADS tp Thái Bình;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã Vũ Tiến, huyện Vũ Thư;
  • - UBND phường Kỳ Bá, tp Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đã ký

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội đánh bạc và gá bạc

  • Số bản án: 33/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc và Gá bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger