TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 23 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Bình.
Bà Phạm Thị Kim Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đậu Công Hữu, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện N và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1987 tại xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Ngô Thị L; có vợ Đặng Thị L1 và chưa có con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 12/2008/HSST, ngày 21/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; Bản án số 14/2010/HS-ST, ngày 31/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2012; Bản án số 34/2014/HSST, ngày 19/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 22/2014/HSST, ngày 26/11/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt bị cáo 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 năm 09 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2019; Bản án số 57/2020/HSST, ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2022; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 307/QĐ-XPHC, ngày 24/8/2020 của Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An đã xử phạt bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã nộp tiền phạt ngày 01/9/2020; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào sáng ngày 16/01/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu yamaha jupiter MX, biển kiểm soát 37B1 - 469.34 đi đến huyện N dự đám cưới. Khi đến khu vực cầu B, thành phố V, tỉnh Nghệ An, bị cáo gặp và đặt vấn đề hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 600.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua xong, Nguyễn Văn T bỏ gói ma túy vào túi áo khoác bên phải và điểu khiển xe mô tô đi đến huyện N. Khi đi đến khu vực chợ L2 thuộc địa phận xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang, đồng thời thu giữ 01 gói ma túy trong túi áo bên phải của Nguyễn Văn T.
Tại bản Kết luận giám định số 190/KL-KTHS (Đ2 –MT), ngày 22/01/2024 của Phòng K công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T gửi tới giám định là ma túy, loại Heroine; số chất rắn màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T có tổng khối lượng là 0,62 gam (không phẩy sáu mươi hai gam)”.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-NĐ, ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy một bì thư đã niêm phong đúng quy định, bên trong có băng dính màu đen, giấy thiếc màu vàng và phong bì thư niêm phong ban đầu, trên phong bì thư ghi: “Vật chứng còn lại của Nguyễn Văn T”. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội để chăm lo cho mẹ già neo đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Xét sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi của mình giống như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 16/01/2024, tại khu vực chợ L2 thuộc địa phận xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An đã bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu bất hợp pháp tại túi áo khoác bên phải một gói được dán kín băng dính màu đen, bên trong chứa 0,62 gam ma túy (Heroine) nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm theo Bản án số 57/2020/HSST, ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi cố ý cất giấu bất hợp pháp 0,62 gam ma túy (Heroine) nhằm mục đích để sử dụng. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 40/CT-VKS-NĐ, ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4]. Về hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện. Ma túy là hiểm họa cho gia đình và xã hội, làm băng hoại đạo đức và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm. Mặc dù bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã bị xét xử nhiều lần nhưng không xem đó là bài học để tu dưỡng bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bác ruột của bị cáo có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu yamaha jupiter MX mang biển kiểm soát 37B1–469.34 mà Nguyễn Văn T dùng làm phương tiện để đi mua chất ma túy về sử dụng thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn H. Khi cho mượn xe, anh Nguyễn Văn H không biết Nguyễn Văn T mượn xe để thực hiện hành vi đi mua chất ma túy sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N trả lại cho anh Nguyễn Văn H theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn H không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T đã lấy mẫu giám định hết nên tịch thu và tiêu hủy một bì thư đã niêm phong đúng quy định, bên trong có băng dính màu đen, giấy thiếc màu vàng và phong bì thư niêm phong ban đầu, trên phong bì thư ghi: “Vật chứng còn lại của Nguyễn Văn T”.
[7]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được lai lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 01 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: Một bì thư đã niêm phong đúng quy định, bên trong có băng dính màu đen, giấy thiếc màu vàng và phong bì thư niêm phong ban đầu, trên phong bì thư ghi: “Vật chứng còn lại của Nguyễn Văn T”. Vật chứng này hiện có tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T Tàng trữ trái phép chất ma túy
