|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày 22 tháng 8 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hào.
Ông Trần Doãn Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Lương Văn T. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/1992 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn N (đã chết) và bà Lê Thị X; Vợ con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lương Văn T bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2023 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thế K; Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt;
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Khánh P, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện C, Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 15/6/2023, Lương Văn T xin đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết từ bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An đến xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An để mua ma túy về sử dụng. Khi đến xã X, Lương Văn T đi bộ một mình thì gặp một người phụ nữ không quen biết đang đứng bên lề đường, Lương Văn T hỏi “Có ma túy bán không?” thì người đó trả lời “Có”. Lương Văn T dùng số tiền 100.000 đ (một trăm nghìn đồng) để mua 02 gói ma túy với người phụ nữ đó. Sau khi mua xong, Lương Văn T xin đi nhờ xe của một người khác để đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến bản Tông, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An thì Lương Văn T xuống xe và đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện C kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của Lương Văn T 02 gói ma túy, bên ngoài mỗi gói được gói bằng mảnh giấy thiếc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) và 01 bơm kim tiêm chưa sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở công an xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An để làm việc.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 15/6/2023 đã xác định: Sau khi loại bỏ mảnh giấy thiếc gói chất bột màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của Lương Văn T có tổng khối lượng 0,14 g (không phẩy mười bốn gam). Để có cơ sở kết luận chất ma túy Hội đồng mở niêm phong đã lấy toàn bộ số chất bột màu trắng sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 0,14 g (không phẩy mười bốn gam) ký hiệu M1 và M2 để gửi đi giám định.
Kết luận giám định số 666/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 19/6/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lương Văn T gửi tới giám định đều là ma túy; loại He(Heroin); có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng (02 gói) thu giữ của Lương Văn T có tổng khối lượng là 0,14g(không phẩy mười bốn gam).
Cáo trạng số 32/CT-VKS-KS ngày 24/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn T thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với các tình tiết đúng như nội dụng bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lương Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, đồng thời miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố, như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12 giờ ngày 15/6/2023, tại khu vực bản T, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, Lương Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo Lương Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma túy. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến kinh tế - xã hội, sức khỏe con người và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép, hành vi đó đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần xử lý bị cáo Lương Văn T nghiêm minh trước pháp luật, tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng thấy, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Hình phạt bổ sung: Thấy rằng bị cáo là dân tộc thiểu số, gia đình khó khăn, bị cáo không có thu nhập ổn định, việc tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng mà không nhằm mục đích mua bán thu lại lợi nhuận, do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo Lương Văn T tại khu vực xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra chưa xác định được danh tính và địa chỉ của người phụ nữ này. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau. Đối với 02 người đi xe máy đã cho Lương Văn T đi nhờ để tìm mua ma túy và đi về, quá trình điều tra bị cáo không quen biết những người trên nên không có căn cứ để điều tra xác minh.
[6] Về vật chứng vụ án: 01 (Một) phong bì bưu điện V đang niêm phong, dán kín. Trên mép dán có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên Lương Văn T và đóng dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An. Bên trong có chứa 02 (hai) mảnh thiếc màu vàng và 01 (một) phong bì thư bưu điện đã được mở niêm phong và 01 bơm kim tiêm là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đã có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 15/6/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì thư bưu điện, loại đang lưu hành đã được niêm phong mặt trước phong bì ghi “Vật chứng còn lại thu giữ của Lương Văn T, sinh năm 1992 vào ngày 15/6/2023”. Mặt sau được dán kín, trên các mép dán có đóng dấu của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An, chữ ký của Lương Văn T và những người tham gia niêm phong. Bên trong phong bì có: 02 (Hai) mảnh thiếc màu vàng và 01 (một) phong bì thư bưu điện đã được mở niêm phong và 01 bơm kim tiêm. Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 38 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông ngày 24/7/2023.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn T.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tuyên bố bị cáo Lương Văn T có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 22/8/2023)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |
Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Thân - Phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
