Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 22 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà.

Ông Lê Văn Danh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Lê Thị D, sinh ngày 01-01-1962, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (không rõ năm sinh) và bà Phan Thị L (không rõ năm sinh); Chồng tên Võ Hùng M, sinh năm 1961 và có 03 con, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1987; Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 13-3-2023 bị Trưởng Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” bằng hình thức đánh bài binh sáu lá với mục đích được thua bằng tiền, nộp phạt ngày 14-3-2023; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04-3-2024 đến nay.
  2. Lê Kim B, sinh ngày 01-01-1955, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 (không rõ năm sinh) và bà Trần Thị T2 (không rõ năm sinh); Chồng tên Dương Văn N (không rõ năm sinh) và có 05 con, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 13-3-2023 bị Trưởng Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” bằng hình thức đánh bài binh sáu lá với mục đích được thua bằng tiền, nộp phạt ngày 14-3-2023; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04-3-2024 đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  2. Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  4. Bà Trần Thị L1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  5. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
  6. Bà Huỳnh Cẩm H1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khóm N, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  7. Bà Huỳnh Thị Diệu T3, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
  2. Bà Lê Thị L2, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 20-12-2023, khi thấy nhà của vợ chồng ông Dương Văn V, bà Huỳnh Thị Diệu T3 tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng không có ai, bà Nguyễn Thị N1 rủ những người đang có mặt vào nhà của vợ chồng ông V, bà T3 chơi đánh bài ăn tiền thì tất cả đồng ý. Lúc này, bà L1 làm nhà cái để bị cáo D, B cùng với bà N1, bà P, bà H1, bà N2, ông H đặt tụ ăn thua trực tiếp với bà L1. Hình thức đánh bạc là chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, mỗi tụ đặt thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Công an xã T tiến hành kiểm, phát hiện nên lập biên bản và tạm giữ tại chiếu bạc 02 bộ bài tây, 51 lá bài tây, số tiền Việt Nam 770.000 đồng; tạm giữ xung quanh chiếu bạc số tiền Việt Nam 20.347.000 đồng; tạm giữ trên người các đối tượng số tiền Việt Nam 2.680.000 đồng và nhiều tang vật khác có liên quan. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã T chuyển hồ sơ cùng các tang vật liên quan đến Cơ quan điều tra Công an huyện C để giải quyết.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C chứng minh được số tiền các bị cáo D, B và bà N1, bà P, bà H1, bà N2, bà L1 và ông H dùng để đánh bạc là 1.985.000 đồng, cụ thể:

- Đối với bị cáo D: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, bị cáo D đem theo số tiền 20.747.000 đồng, dùng số tiền 400.000 đồng để đánh bạc, còn lại số tiền 20.347.000 đồng là số tiền dùng để tiêu xài cá nhân và của người khác gửi cho con bị cáo là ông Võ Minh T4. Bị cáo D đặt tụ được 04 ván, mỗi ván đặt cược số tiền 50.000 đồng. Kết quả đánh bạc, bị cáo D thua số tiền 100.000 đồng, riêng ván thứ 4 chưa phân thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền bị cáo D dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.

- Đối với bị cáo B: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, bị cáo B đem theo số tiền 50.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Bị cáo B tham gia đặt tụ được 03 ván, mỗi ván đặt cược số tiền 50.000 đồng. Kết quả đánh bạc, bị cáo B hòa vốn, riêng ván thứ 3 chưa phân thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền bị cáo B dùng để đánh bạc là 50.000 đồng.

- Đối với bà L1: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, bà L1 đem theo số tiền 200.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Bà L1 làm nhà cái ăn thua trực tiếp với người đặt tụ. Bà L1 quy định mỗi tụ đặt thấp nhất số tiền 10.000 đồng, cao nhất số tiền 50.000 đồng. Kết quả đánh bạc, bà L1 thắng được số tiền 40.000 đồng. Số tiền bà L1 dùng để đánh bạc là 200.000 đồng.

- Đối với bà N1: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, bà N1 đem theo số tiền 564.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Bà N1 tham gia đặt tụ được 06 ván, mỗi ván đặt cược số tiền 50.000 đồng. Kết quả đánh bạc, bà N1 thắng được 50.000 đồng. Số tiền bà N1 dùng để đánh bạc là 564.000 đồng.

- Đối với bà P: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, bà P đem theo số tiền 350.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Bà P tham gia đặt tụ được khoảng 10 ván, mỗi ván đặt cược số tiền từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Kết quả đánh bạc, bà P thua 100.000 đồng. Số tiền bà P dùng để đánh bạc là 350.000 đồng.

- Đối với bà H1: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, bà H1 đem theo số tiền 210.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Bà H1 tham gia đặt tụ được 02 ván, mỗi ván đặt cược số tiền 50.000 đồng. Kết quả đánh bạc, bà H1 hòa vốn, riêng ván thứ 2 chưa phân thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền bà H1 dùng để đánh bạc là 210.000 đồng.

- Đối với bà N2: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, bà N2 đem theo số tiền 160.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Bà N3 tham gia đặt tụ được 03 ván, mỗi ván đặt cược số tiền từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng. Kết quả đánh bạc, bà N3 thua hết số tiền 30.000 đồng, riêng ván thứ 3 chưa phân thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền bà N3 dùng để đánh bạc là 160.000 đồng.

- Đối với ông H: Ngày 20-12-2023, khi đến địa điểm đánh bạc, ông H đem theo số tiền 51.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Ông H tham gia đặt tụ được 03 ván, mỗi ván đặt cược số tiền 20.000 đồng. Kết quả đánh bạc, ông H hòa vốn, riêng ván thứ 3 chưa phân thắng thua thì phát hiện. Số tiền ông H dùng để đánh bạc là 51.000 đồng.

Đến ngày 04-3-2024, Cơ quan điều tra Công an huyện C quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo D, B về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện C quyết định tạm giữ:

Tạm giữ đồ vật, tài sản không rõ chủ sở hữu: Số tiền Việt Nam 20.747.000 đồng, 01 chiếc chiếu lát, 51 lá bài tây (đã qua sử dụng), 02 bộ bài tây (chưa qua sử dụng); Tạm giữ của bị cáo D số tiền Việt Nam 300.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số Imei 365902/08/787921/6; Tạm giữ của bị cáo B số tiền Việt Nam 50.000 đồng; Tạm giữ của ông H số tiền Việt Nam 51.000 đồng; Tạm giữ của ông B1 số tiền Việt Nam 105.000 đồng; Tạm giữ của bà Lê Thị L2 số tiền Việt Nam 1.300.000 đồng; Tạm giữ của bà N3 số tiền Việt Nam 130.000 đồng; Tạm giữ của bà N1 số tiền Việt Nam 614.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số Imei 358901154605072120; Tạm giữ của bà H1 số tiền Việt Nam 210.000 đồng; Tạm giữ của bà L1 số tiền Việt Nam 240.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; Tạm giữ của bà P số tiền Việt Nam 250.000 đồng.

Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp các tài sản sau:

Trả lại cho bị cáo D số tiền Việt Nam 347.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số I 365902/08/787921/6; Trả lại cho ông B1 số tiền Việt Nam 105.000 đồng; Trả lại cho bà L2 số tiền Việt Nam 1.300.000 đồng; Trả lại cho bà N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số Imei 358901154605072120; Trả lại cho bà L1 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen; Trả lại cho ông T4 số tiền Việt Nam 20.000.000 đồng; Đối với các vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật, riêng số tiền 2.245.000 đồng còn lại, ngày 02-5-2024 Cơ quan điều tra Công an huyện C đã gửi Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng để bảo quản theo quy định của pháp luật.

- Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKS-CT ngày 20-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo D, Bé tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo D, Bé tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phát biểu luận tội Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo D, Bé phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo D, xử phạt bị cáo D từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo B, xử phạt bị cáo B từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tịch thu tiêu hủy đối với công cụ phạm tội gồm: 01 chiếc chiếu lát, 51 là bài tây (đã qua sử dụng), 02 bộ tài tây (chưa qua sử dụng); Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 2.245.000 đồng là số tiền dùng để đánh bạc, thu giữ tại chiếu bạc.

Bị cáo D, B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất Cáo trạng truy tố các bị cáo tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trình bày tranh luận, các bị cáo D, B xin giảm nhẹ hình phạt. Lời nói sau cùng, các bị cáo D, Bé xin giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị N1, bà Huỳnh Thị P, bà Nguyễn Thị N2, bà Huỳnh Cẩm H1, bà Huỳnh Thị Diệu T3, bà Trần Thị L1 và người làm chứng ông Nguyễn Thanh B1 vắng mặt không có lý do. Các bị cáo D, B không có ý kiến. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người tham gia tố tụng này đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, vắng mặt không có lý do và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo D, B, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo D, B thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với Biên bản kiểm tra ngày 20-12-2023 và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:

[4] Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 20-12-2023, tại nhà của vợ chồng ông V, bà T3 tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, các bị cáo D, B cùng với bà Nguyễn Thị N1, bà Huỳnh Thị P, bà Huỳnh Cẩm H1, bà Nguyễn Thị N2, bà Trần Thị L1 và ông Huỳnh Văn H đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, số tiền dùng để đánh bạc chứng minh được là 1.985.000 đồng.

[5] Tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[6] Đối chiếu với quy định viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo D, B là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, chỉ vì ham vui các bị cáo đã tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, số tiền dùng để đánh bạc chứng minh được là 1.985.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng) nhưng các bị cáo D, B đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm. Do đó, hành vi của các bị cáo D, B đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Như vậy, Cáo trạng số: 27/CT-VKS-CT ngày 20-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo D, Bé tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[8] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự tại phương nên cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm.

[9] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo D, B có vai trò là người thực hành, đặt tụ để ăn thua trực tiếp với nhà cái, số tiền bị cáo D dùng để đánh bạc là 400.000 đồng, bị cáo đặt tụ được 04 ván, mỗi ván đặt cược số tiền 50.000 đồng; số tiền bị cáo B dùng để đánh bạc là 50.000 đồng, bị cáo đặt tụ 03 ván, mỗi ván được cược số tiền 50.000 đồng. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, mức hình phạt của bị cáo D cao hơn bị cáo B.

[10] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau: Các bị cáo D, B có nhân thân xấu, chưa có tiền án, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo D, Bé thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo là người cao tuổi, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền Việt Nam 2.245.000 đồng là số tiền đánh bạc, thu giữ tại chiếc bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc chiếu lát, 51 là bài tây (đã qua sử dụng), 02 bộ tài tây (chưa qua sử dụng) là công cụ đánh bạc nên tịch thu tiêu hủy.

[12] Trong quá trình điều tra, bị cáo D khai nhận, ngoài lần đánh bạc ngày 20-12-2023, vào ngày 18-12-2023 bị cáo đến nhà của vợ chồng ông V, T3 tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng đánh bạc nhưng không xác định được diễn biến vụ việc, người tham gia đánh bạc, số tiền dùng để đánh bạc, ngoài lời khai của bị cáo D thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[13] Đối với bà Nguyễn Thị N1, bà Huỳnh Thị P, bà Huỳnh Cẩm H1, bà Nguyễn Thị N2, bà Trần Thị L1, ông Huỳnh Văn H: Vào ngày 20-12-2023, bà Trần Thị L1 làm nhà cái để đánh bạc với bị cáo D, B và bà Nguyễn Thị N1, bà Huỳnh Thị P, bà Huỳnh Cẩm H1, bà Nguyễn Thị N2, ông Huỳnh Văn H dưới hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, số tiền dùng để đánh bạc chứng minh được là 1.985.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm. Hành vi này của bà Nguyễn Thị N1, bà Huỳnh Thị P, bà Huỳnh Cẩm H1, bà Nguyễn Thị N2, bà Trần Thị L1, ông Huỳnh Văn H đã bị Công an huyện C quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng nên không xem xét, xử lý.

[14] Đối với bà Huỳnh Thị Diệu T3, ông Dương Văn V: Trong quá trình điều tra đã chứng minh được địa điểm đánh bạc là nhà ở do vợ chồng ông V, bà T3 quản lý, sử dụng. Tại thời điểm các bị cáo D, B và những người khác đánh bạc bà T3 không có ở nhà, khi bà T3 về nhà phát hiện có nhiều người tụ tập đánh bạc bà T3 không cho những người này đánh bạc tại nhà của mình nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[15] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ pháp luật. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo D, Bé mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị; các bị cáo D, Bé phạm tội ít nghiêm trọng, bị xử phạt tù dưới 03 (ba) năm, chưa có tiền án, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo là nữ và là người cao tuổi, có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên đủ điều kiện được hưởng án treo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (viết tắt là Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP) và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được hưởng án treo của các bị cáo, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, cho các bị cáo D, B được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách bằng 02 lần mức hình phạt tù và trong thời gian thử thách các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[16] Các bị cáo D, B là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm nên xem xét cho các bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.

[17] Các bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Lê Thị D, Lê Kim B.
  • Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106, Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị D, Lê Kim B phạm tội “Đánh bạc”.

Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Lê Thị D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22-7-2024).
  2. Giao bị cáo Lê Thị D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Lê Thị D thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Xử phạt bị cáo Lê Kim B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22-7-2024).
  4. Giao bị cáo Lê Kim B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Lê Kim B thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chiếu lát, 51 lá bài tây (đã qua sử dụng), 02 bộ bài tây (chưa qua sử dụng).
    • - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Số tiền Việt Nam 2.245.000 đồng gởi tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo biên bản giao, nhận ngày 02-5-2024.
  6. Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Lê Thị D, Lê Kim B thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CQĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thành Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Thị D và đông phạm phạm tội "Đánh bạc".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger