Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/5/2024

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Lê Thế Hải
  2. Bà: Nguyễn Thị Sen

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H – Sinh năm: 1994

HKTT: Thôn T, xã T, TX. N, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: TDP S, phường N, TX. N, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn M - Sinh năm: 1994

HKTT: Thôn T, xã T, TX. N, tỉnh Thanh Hóa.

Các đương sự vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải chị Đinh Thị H trình bày như sau: Chị và anh Phạm Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã N, Thanh Hóa vào ngày 01/8/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tin tưởng nghi ngờ lẫn nhau cả về tình cảm và kinh tế, nhiều lần xảy ra bạo lực gia đình. Đến cuối tháng 10/2023, chị mang các con về nhà bố mẹ đẻ ở, trong thời gian sống ly thân hai bên không liên lạc với nhau. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh M nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Quan điểm trình bày của anh Phạm Văn M tại bản tự khai, biên bản hòa giải như sau: Về thời gian, điều kiện, địa điểm kết hôn, như chị H trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là không đúng, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng vẫn bình thường. Trong cuộc sống thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau và xảy ra bạo lực gia đình nguyên nhân là do khoảng tháng 10/2023 chị H có chơi cá cược trên mạng dẫn đến việc mất nhiều tiền. Do áp lực về kinh tế và gia đình nên trong khoảng thời gian đó anh thường xuyên nhậu nhẹt với bạn bè, đồng nghiệp. Đầu tháng 11 do ghen tuông anh với bạn nên chị H nhắn tin chửi bới anh rồi đem 03 con về nhà ngoại ở 10 ngày. Sau đó quay về thì lại xảy ra mâu thuẫn với mẹ chồng, chị H đem chăn, gối ra đốt và có ý định đốt 02 xe máy do quá bực tức nên anh mới đánh chị H. Sau đó chị H lại tiếp tục mang 03 con về ngoại và chuyển trường cho các con. Tháng 1/2024 anh lên đón 2 con nhỏ về, còn cháu lớn ở lại với chị H. Trong khoảng thời gian trước tết anh có lên nhà ngoại để đón chị H về nhưng chị H yêu cầu phải xây tường ngăn cách khoảng sân giữa nhà anh và nhà bố mẹ nhưng anh không đồng ý. Sau đó, chị H nộp đơn lên Tòa, lần thứ nhất anh đi cùng nhưng xé hồ sơ, lần này chị H lại tiếp tục nộp đơn ly hôn lên Tòa án thì anh không đồng ý, vợ anh muốn ly hôn thì để vợ anh tự làm, anh chỉ nghĩ thương 03 đứa con. Anh chỉ muốn chị H về cùng nhau thay đổi tính nết để làm ăn nuôi con và trả nợ. Còn trong trường hợp chị H kiên quyết ly hôn, thì anh để kệ chị H, tình cảm vợ chồng không thể gượng ép hàn gắn được.

Về con chung: chị H và anh M thừa nhận có 03 con chung là các cháu Phạm Thúy H1 – Sinh ngày: 10/01/2015, Phạm Tuấn K – Sinh ngày: 08/9/2016 và Phạm Thảo K1 – Sinh ngày: 12/9/2020. Nay ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi cháu Thúy H1, hiện tại anh M đang nuôi chau K và cháu K1 nên đê anh M tiếp tục nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng. Anh M đồng ý nuôi cháu K và cháu K1 và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Nguyện vọng của cháu T H1 xin được ở cùng với chị H, nguyện vọng của cháu K muốn ở với anh M.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị H. Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn M; Về con chung giao cháu Thúy H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Tuấn K và Thảo K1 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Các bên được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn M là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa lần thứ nhất anh M vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt thủ tục hợp lệ, đúng theo quy định cho anh M vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh M. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt chị H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị H và anh M có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau và xảy ra bạo lực gia đình. Anh chị đã sống ly thân hoàn toàn từ cuối năm 2023 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án anh M không đồng ý ly hôn vì nghĩ thương con, còn về mặt tình cảm anh cho rằng không thể gượng ép được. Trên cơ sở trình bày của các đương sự, xác minh tại chính quyền địa phương xác định hiện tại anh chị đang sống ly thân. HĐXX xét thấy về phía tình cảm của chị H và anh M không còn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Vì vậy HĐXX thấy nếu có kéo dài thì đời sống vợ chồng anh chị cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh M.

[3] Về con chung: Chị H và anh M có ba con chung là cháu Phạm Thúy H1 – Sinh ngày: 10/01/2015, Phạm Tuấn K – Sinh ngày: 08/9/2016 và Phạm Thảo K1 – Sinh ngày: 12/9/2020. Nay ly hôn nguyện vọng của chị H xin được nuôi cháu Thúy H1; Nguyện vọng của anh M xin được nuôi cháu Tuấn K và Thảo K1; Nguyện vọng của cháu T H1 xin được ở với mẹ, cháu K2 có nguyện vọng ở với bố. Xét nguyện vọng của các đương sự cũng như của các cháu HĐXX thấy bản thân chị H và anh M đều đủ điều kiện nuôi con. Hơn nữa từ khi bố mẹ ly thân đến nay, cháu Thúy H1 ở với mẹ và 02 cháu K và K1 ở với bố. Vì vậy, để đảm bảo đời sống của các cháu không bị xáo trộn, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Thúy H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tuấn K và Thảo K1 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của các cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự nên được HĐXX chấp nhận.

Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56; khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị H

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn M.
  2. Về con chung: Chị H và anh M có ba con chung là cháu Phạm Thúy H1 – Sinh ngày: 10/01/2015, Phạm Tuấn K – Sinh ngày: 08/9/2016 và Phạm Thảo K1 – Sinh ngày: 12/9/2020. Nay ly hôn, giao cháu Thúy H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tuấn K và Thảo K1 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau.

    Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.

  4. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  5. Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007062, ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã thi hành xong phần án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Tùng Lâm, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quá trình chung sống giữa chị H và anh M có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau và xảy ra bạo lực gia đình. Anh chị đã sống ly thân hoàn toàn từ cuối năm 2023 cho đến nay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger