Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 33/2024/HS-ST

Ngày 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Hải Yến - Giảng viên Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Tiên Lãng;

Ông Hoàng Văn Đoan - Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã Tiên Thanh, huyện Tiên Lãng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Tâm và ông Phạm Văn N - Đều là Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Đình T, sinh ngày 04-3-2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 9 tháng 28 ngày) tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Khu K, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình M, sinh năm 1971 và bà Trịnh Thị A, sinh năm 1981; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13-3-2023, Phạm Đình T bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản với thời hạn 06 tháng; ngày 21-9-2023, bị cáo chấp hành xong quyết định.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trịnh Thị A, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khu K, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng - Là mẹ đẻ của bị cáo; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Chị Hoàng Thị N1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu K, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 01-01-2024, Phạm Đình T, đi bộ một mình từ nhà ra khu vực xã T xem có nhà ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua, nhìn thấy nhà chị Hoàng Thị N1, không có ai ở nhà, cửa không khóa nên T đi vào trong nhà đến bên tủ nhựa đựng quần áo kéo ngăn tủ ra thấy có 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu ASUS VIVOBOOK màu xanh than và 01 chuột dây nhãn hiệu FPT màu đen. T lấy chuột dây cho vào túi áo khoác, còn chiếc máy tính T mang ra ngoài lấy vỏ bao xi măng quấn lại giấu ở rìa tường sát cổng nhà chị N1 rồi đi về nhà. Đến 20 giờ cùng ngày, T đi đến cổng nhà chị N1 lấy chiếc máy tính mang về nhà. Sau đó chị N1 về nhà và phát hiện thấy tài sản bị mất nên đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã T, huyện T.

Ngày 02-01-2024, T lên Cơ quan Công an huyện T tự thú và giao nộp 01 máy tính, 01 chuột dây. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Đình T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ đồ vật nào có liên quan đến vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 22-01-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu ASUS VIVOBOOK, vẫn hoạt động bình thường có giá trị 4.000.000 đồng; 01 chuột dây nhãn hiệu FPT màu đen, đã qua sử dụng, vẫn hoạt động bình thường có giá trị 50.000 đồng. Tổng giá trị của 02 tài sản là 4.050.000 đồng”.

Quá trình điều tra chị Hoàng Thị N1 trình bày: Chiếc máy tính Laptop chị mua với giá 16.000.000 đồng, còn chuột dây chị mua với giá 90.000 đồng ở huyện A năm 2017. Khoảng 9 giờ ngày 01-01-2024, chị đi ra khỏi nhà, không khóa cửa; đến khoảng 21 giờ cùng ngày chị về đến nhà thì phát hiện bị mất các tài sản trên. Ngoài chiếc Laptop và chuột dây thì chị không bị mất tài sản nào khác, chị đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo T bồi thường dân sự; chị đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 19-4-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị N1; không có ai xúi giục, lôi kéo; bị cáo mang máy tính và chuột dây về nhà cất giấu thì gia đình không ai biết. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày lời khai nhận tội của T tại phiên tòa hôm nay đúng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, thiếu hiểu biết; gia đình chưa quan tâm, quản lý sát xao; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích.

Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 19-4-2024 truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T mức án từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên đề nghị không xem xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Do bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên người đại diện hợp pháp là bà Trịnh Thị A nộp thay án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên khả năng nhận thức cũng như hiểu biết pháp luật còn hạn chế; gia đình chưa quản lý, giáo dục đúng mức để cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội; không cần thiết phải cách ly bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được sửa chữa sai lầm, trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình.
  2. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp; người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. Về người tham gia tố tụng: Bị hại là chị Hoàng Thị N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.

- Về tội danh và hình phạt:

  1. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án; được chứng minh bằng lời khai của bị hại, đơn xin đầu thú; biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 01-01-2024, tại nhà chị Hoàng Thị N1, thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy tính Laptop nhãn hiệu ASUS VIVOBOOK màu xanh than và 01 chuột dây nhãn hiệu FPT có tổng giá trị theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 4.050.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo 16 tuổi 9 tháng 28 ngày là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

  1. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật.
  2. Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
  1. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

    Nhân thân: Ngày 13-3-2023, T bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản với thời hạn 06 tháng; mặc dù đã chấp hành xong ngày 21-9-2023 nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

    Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

  2. Xét các căn cứ quyết định hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

    Hội đồng xét xử, xét thấy: Xuất phát từ nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức rõ được sự sai trái của mình để khắc phục, sửa chữa; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo mục đích của hình phạt; cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân tốt; đồng thời cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

  3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự.
  4. Về dân sự: Bị hại là chị Hoàng Thị N1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  5. Về xử lý vật chứng: Đối với vỏ bao xi măng, bị cáo bỏ lại cổng nhà chị N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được nên không xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị hại, bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Giao Phạm Đình T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Đình T.

3. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 45; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Đình T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Phạm Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Do bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên người đại diện hợp pháp là bà Trịnh Thị A nộp thay án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Đình T, người bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại là chị Hoàng Thị N1 có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PC10, PV06);
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger