|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sang
Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc – Kiểm sát viên
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST - HNGĐ ngày 18.01.2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 08.3.2024, quyết định hoãn số 57/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 01.4.2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Võ Nguyễn Minh K, sinh năm 1997. Yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Địa chỉ: Số D, khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn H - Văn phòng luật sư Nguyễn Văn H thuộc Đoàn luật sư T1 - Địa chỉ: E - T, phường L, quận C, TP .
- Bị đơn: Ông Lê Nguyễn Toàn T, sinh năm 1993. Có mặt
Địa chỉ: Số B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Võ Nguyễn Minh K và ông Lê Nguyễn Toàn T qua tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do ông T không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình. Mâu thuẫn kéo dài đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay yêu cầu ly hôn với ông Lê Nguyễn Toàn T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Hải Y, sinh ngày 25.02.2019, giới tính: Nữ. Hiện nay cháu Y do bà K trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu.
Bị đơn ông Lê Nguyễn Toàn T có gửi văn bản ngày 29.01.2024 trình bày ý kiến:
- Về hôn nhân: Về nguyên nhân mâu thuẫn do bà K có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Ông T đồng ý bỏ qua. Nay bà K yêu cầu ly hôn, ông T không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ và con còn nhỏ
- Về con chung: Không trình bày ý kiến.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không nêu ý kiến
- Về tài sản chung: không nêu ý kiến có hay không có tài sản chung
- Về nợ: Có mượn ông Nguyễn Kiên S số tiền 300.000.000 đồng nhưng không yêu cầu như thế nào.
Bà Võ Nguyễn Minh K trình bày ý kiến về nợ: Bà K không biết khoảng nợ 300.000.000 đồng mà ông T đã trình bày gửi cho Tòa án. Bà K cũng không biết số tiền này, không có ký biên nhận nợ nào với ông Nguyễn Kiên S
Quá trình tố tụng, ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Võ Nguyễn Minh K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
+ Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông ông Lê Nguyễn Toàn T
+ Về con chung: Yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Hải Y, sinh ngày 25.02.2019, giới tính: Nữ.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu.
Ông T trình bày ý kiến: Không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ, con còn nhỏ. Về con chung nếu Hội đồng xét xử cho ly hôn, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Nếu giao con chung cho bà K, ông T không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Hôn nhân giữa bà K và ông T có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, trong thời kỳ hôn nhân có phát sinh mâu thuẫn và hiện tại hôn nhân không hạnh phúc, không thể tiếp tục hôn nhân. Về con chung khi ly hôn bà K yêu cầu nuôi con, hiện tại cháu Y đang được bà K nuôi dưỡng, chăm sóc, cháu Y là nữ, bà K có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu Y. Bà K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, chung, nợ chung: ông T và bà K xác nhận không có nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, cũng như của Hội đồng xét xử ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định.
+ Về việc giải quyết vụ án: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án các yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Nguyễn Minh K
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy.
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Nguyễn Minh K khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn có nơi cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ. Do đó, quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Võ Nguyễn Minh K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Nguyễn Minh K và ông Lê Nguyễn Toàn T tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa bà K và ông T là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà K và ông T phát sinh mâu thuẫn, bà K cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn ông T không lo lắng, chăm sóc vợ con dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Ông T có mặt tại phiên tòa ngày 22.4.2024 trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà K. Giữa bà K và ông T mâu thuẫn là do bà K có mối quan hệ bất chính bên ngoài, ông T không đồng ý ly hôn, yêu cầu đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình vì còn yêu thương vợ và con còn nhỏ. Xét thấy, khi xảy ra mâu thuẫn trong hôn nhân, ông T có hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà K vẫn giữ yêu cầu ly hôn và hiện tại giữa ông T và bà K không giải quyết được mâu thuẫn, không còn chung sống với nhau. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà K và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Võ Nguyễn Minh K có căn cứ.
[2.2] Về con chung: Bà K và ông T có 01 con chung tên Lê Hải Y, sinh năm 2019, giới tính nữ. Bà K yêu cầu trục tiếp nuôi dưỡng. Ông T có yêu cầu nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, Bà K và ông T có đủ điều kiện để nuôi con. Hiện tại cháu Lê Hải Y đang sống chung với bà K được bà K chăm sóc tốt về mọi mặt, cháu Y còn nhỏ là nữ, để tránh làm xáo trộn cuộc sống bình thường của đứa trẻ nên giao cháu Y cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và hoàn cảnh sống.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông T theo quy định pháp luật không ai được ngăn cản.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Bà K và ông T xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
[2.4] Về nợ chung: Bà K và ông T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí án hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Nguyễn Minh K phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Nguyễn Minh K đối với ông Lê Nguyễn Toàn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Nguyễn Minh K ly hôn với ông Lê Nguyễn Toàn T.
-
Về con chung: Giao cháu Lê Hải Y, sinh ngày 25.02.2019, giới tính: Nữ cho bà Võ Nguyễn Minh K trực tiếp nuôi dưỡng.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung cho ông Lê Nguyễn Toàn T theo quy định pháp luật không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Nguyễn Toàn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có tài sản chung
- Về nợ chung: Không có tài sản chung.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Nguyễn Minh K phải nộp 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Võ Nguyễn Minh K đã nộp theo biên lai thu số 0003181, ngày 11.01.2024 của chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà Minh K đã nộp xong.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kha-t
