TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/DS-ST Ngày: 21/6/2024 V/v tranh chấp chia di sản thừa kế. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Văn Thông
- Bà Lê Ngọc Lan
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Như Thuỷ – Kiểm sát viên
Vào ngày 21/6/2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2021/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-DS ngày 15/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QÐST-DS ngày 10/5/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1957. Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1984. Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Văn T1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H, là Luật sư thuộc văn phòng luật sư N. Địa chỉ liên lạc: số 41 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Xuân An, thành phố
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T2, sinh năm 1952. Địa chỉ: số I, đường C, tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Văn N1, sinh năm 1964. Địa chỉ: I, đường T, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
3.2. Bà Trần Thị X, sinh năm 1960. Địa chỉ: I, đường T, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
3.3. Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1971. Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
3.4. Bà Thị T3, sinh năm 1960 và bà Thị H. Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
3.5. Ông Thổ K, sinh năm 1968 và bà Thị B, sinh năm 1971. Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
3.6. Ông Nguyễn Nghĩa T4, sinh năm 1965. Địa chỉ: số E đường P, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
3.7. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1961. Địa chỉ: số A đường T, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
3.8. Ông Lê Công P, sinh năm 1967. Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Anh Thư, ông T2, ông N1, bà X, bà D và Luật sư T1 có mặt,
các đương sự còn lại vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 20/4/2021, các lời khai bổ sung và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn ông Trần Văn V do anh Trần Văn T làm đại diện trình bày: cha mẹ ông là cụ Trần Văn L và cụ Phan Thị T5, cụ T5 chết năm 2004, cụ L chết năm 2009. Thời điểm hai cụ chết thì cha mẹ ruột của hai cụ không ai còn sống, hai cụ không có con riêng, không có cha mẹ nuôi, con nuôi theo quy định pháp luật, hai cụ không dể lại di chúc.
Hai cụ có các con ruột còn sống là Trần Văn T2, Trần Văn V, Trần Văn N1, Trần Thị X và Trần Thị Mỹ D, có 03 người con ruột là Trần Văn Q chết năm 1975, Trần Thanh S chết năm 1969 và Trần Văn D2 chết năm 1997, thời điểm 03 người này chết thì họ không có vợ con.
Di sản của cụ L và cụ T5 hiện chưa chia là đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B. Nguyên đơn yêu cầu chia cho ông được quyền sử dụng toàn bộ di sản thừa kế là các thửa đất nêu trên theo nội dung văn bản chia thừa kế lập vào ngày 17/6/2013 tại trụ sở khu phố A phường X, nguyên đơn thanh toán lại cho các đồng thừa kế khác giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền theo
2
giá mà Toà án đã tiến hành định giá.
Nếu Toà án chia thừa kế theo pháp luật thì yêu cầu tính công sức của nguyên đơn do có thời gian giữ gìn, quản lý canh tác đất trực tiếp, cụ thể là ½ kỷ phần thừa kế theo pháp luật. Tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn yêu cầu tính công sức giữ gìn, quản lý đất là 10% tổng giá trị di sản thừa kế.
Chứng cứ: tự khai, trích lục giấy khai tử, giấy khai sinh, CMND + sổ hộ khẩu, bản photo biên bản hoà giải của khu phố A phường X, biên bản hoà giải của xã B, đơn xin miễn tạm ứng án phí và án phí, bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng uỷ quyền + CCCD của người nhận uỷ quyền.
- Bị đơn ông Trần Văn T2 trình bày: Ông thừa nhận đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B là di sản của cha mẹ là cụ Trần Văn L và cụ Phan Thị T6 để lại. Hai cụ chết không để lại di chúc nên ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ theo pháp luật, đề nghị Toà án chia thừa kế bằng hiện vật là đất, chia đều phần mỗi người được khoảng 3 sào đất.
Tại phiên toà sơ thẩm ông đồng ý chia đất cho nguyên đơn được quyền sử dụng, nguyên đơn thanh toán cho ông giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền, vì hiện trạng đất khó khăn trong việc chia theo hiện vật, ông không đồng ý việc tính công sức giữ gìn, quản lý đất cho ông V.
Chứng cứ: Chứng minh nhân dân + sổ hộ khẩu, bản chính văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 22/11/2016, bản sao giấy CN đất thửa 54 tờ 4 phường X, giấy tay nhân cọc bán nhà ngày 13/10/2016, giấy nhượng đất ruộng năm 1981, tờ khai ruộng đất của ông L, bản photo giấy chứng nhận đất tranh chấp thừa kế, biên bản làm việc năm 2006 của xã B, bản pho to giấy chứng nhận đất của ông T2, ông V, ông N1, bà X, bà D đối với đất đã chia thừa kế xong, giấy uỷ quyền của ông L cho ông T2 vào năm 2003, giấy cam đoan về quan hệ nhân thân, bản photo giấy chứng tử của cụ L, cụ T6.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị X trình bày: đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B là di sản của cha mẹ là cụ Trần Văn L và cụ Phan Thị T6. Hai cụ chết không để lại di chúc nên di sản này phải chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế là bà, ông V, ông T2, bà D và ông N1, đề nghị Toà án chia cho bà kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là đất.
Tại phiên toà sơ thẩm bà đồng ý chia đất cho nguyên đơn được quyền sử dụng, nguyên đơn thanh toán cho bà giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền, vì hiện trạng
3
đất khó khăn trong việc chia theo hiện vật, bà không đồng ý việc tính công sức giữ gìn, quản lý đất cho ông V.
Chứng cứ: T7 khai, căn cước công dân, sổ hộ khẩu.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N1 trình bày: đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B là di sản của cha mẹ là cụ Trần Văn L và cụ Phan Thị T6. Hai cụ chết không để lại di chúc nên di sản này chia theo pháp luật cho các đồng thửa kế là ông, ông V, ông T2, bà D và bà X, đề nghị Toà án chia cho ông kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là đất.
Tại phiên toà sơ thẩm ông đồng ý chia đất cho nguyên đơn được quyền sử dụng, nguyên đơn thanh toán cho ông giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền, vì hiện trạng đất khó khăn trong việc chia theo hiện vật, ông không đồng ý việc tính công sức giữ gìn, quản lý đất cho ông V.
Chứng cứ: T7 khai, căn cước công dân, sổ hộ khẩu.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mỹ D trình bày: đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B là di sản của cha mẹ là cụ Trần Văn L và cụ Phan Thị T6. Hai cụ chết không để lại di chúc nên di sản này phải chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế là bà, ông V, ông T2, bà D và ông N1, đề nghị Toà án chia cho bà kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là đất.
Tại phiên toà sơ thẩm bà đồng ý chia đất cho nguyên đơn được quyền sử dụng, nguyên đơn thanh toán cho bà giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền, vì hiện trạng đất khó khăn trong việc chia theo hiện vật, bà không đồng ý việc tính công sức giữ gìn, quản lý đất cho ông V.
Chứng cứ: T7 khai, căn cước công dân, sổ hộ khẩu.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thị T3 và bà Thị H, ông Thổ K và bà Thị B, ông Nguyễn Nghĩa T4, ông Lê Công P vắng mặt tại phiên toà, quá trình làm việc ông bà có ý kiến: các ông bà là chủ sử dụng của các thửa đất giáp ranh với đất tranh chấp thừa kế giữa các anh chị em của ông V, quá trình sử dụng đất giữa các bên không có tranh chấp gì về ranh giới đất, đề nghị Toà án sử dụng ranh giới đất theo hiện trạng theo hiện trạng giữa các bên để giải quyết vụ án.
Chứng cứ: T7 khai, căn cước công dân, đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D1 vắng mặt tại phiên toà, quá trình làm việc ông có ý kiến: ông là chủ sử dụng đất giáp ranh với đất tranh chấp thừa kế giữa các anh chị em của ông V, ông đề nghị Toà án căn cứ
4
vào ranh giới theo bản đồ địa chính đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết vụ án.
Chứng cứ: căn cước công dân.
- Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của các thửa đất 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B.
- Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và đương sự trong việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Các đương sự chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng một số người liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định.
+ Về nội dung vụ án: đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B là di sản của cụ Trần Văn L và cụ Phan Thị T6. Hai cụ chết không để lại di chúc nên di sản này phải chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế là ông V, ông T2, bà X, bà D và ông N1. Do hiện trạng đất khó trong việc chia tách, các đương sự cũng thống nhất nên đề nghị giao toàn bộ đất cho ông V được quyền sử dụng, ông V thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền cho các đồng thừa kế. Ông V là người trực tiếp quản lý di sản thừa kế từ năm 2013 cho đến nay nên việc ông yêu cầu tính công sức giữ gìn, tôn tạo di sản là có cơ sở nhưng chỉ chấp nhận với mức 5%/ tổng giá trị di sản thừa kế. Khấu trừ tiền tính công sức giữ gìn, tôn tạo di sản thừa kế vào trong số tiền ông V phải thanh toán cho các đồng thừa kế. Về án phí và chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Các thửa đất 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B hiện tại đều đứng tên ông Trần Văn L, các đồng thừa kế đều thống nhất các thửa đất nêu trên là di sản thừa kế của cụ L, cụ T6 để lại. Hai cụ chết không để lại di chúc, cha mẹ hai cụ đều đã chết, ngoài con ruột là ông V, ông T2, ông N1, bà X thì không còn con nuôi, con riêng nào khác.
Như vậy di sản thừa kế của cụ L, cụ T6 được chia theo quy định pháp luật, di sản thừa kế có giá trị là 4.345.825.000 đồng/5 đồng thừa kế nên ông V, ông T2, bà X, ông N1, bà D mỗi người được nhận một phần di sản thừa kế bằng nhau là
5
869.000.000 đồng. Giao cho ông V được quyền sử dụng toàn bộ đất thừa kế và thanh toán cho mỗi đồng thừa kế 869.000.000 đồng.
Ông V là người trực tiếp quản lý, sử dụng, canh tác đối với toàn bộ di sản thừa kế trong một thời gian rất dài, có đầu tư trồng cây trên đất nên đề nghị cho V được quyền hưởng công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản với mức 10% của tổng giá trị di sản thừa kế.
Yêu cầu ghi nhận nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật: ông Trần Văn V khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ đối với đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B, căn cứ khoản 5 điều 26 và điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ kiện “Tranh chấp chia di sản thừa kế” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
[2] Tư cách tham gia tố tụng: Ông V có đơn khởi kiện đối với ông Trần Văn T2 nên căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự thì ông V là nguyên đơn, ông T2 bị đơn trong vụ án. Các ông bà gồm bà Trần Thị X, ông Trần Văn N1, bà Trần Thị Mỹ D là các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản nên những người này tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Kết quả đo vẽ đất tranh chấp là di sản thừa kế thì thấy có sự biến động chênh lệch về ranh giới, diện tích với các chủ đất liền kề nên Toà án xác định các ông bà là bà Thị T3 và bà Thị H, bà Thị B và ông Thổ K, ông Nguyễn Nghĩa T4, ông Nguyễn Văn D1, ông Lê Công P tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Thủ tục tố tụng:
Ông Trần Văn V uỷ quyền cho anh Trần Văn T làm đại diện tham gia tố tụng là phù hợp cho quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Thị T3 và bà Thị H, bà Thị B và ông Thổ K, ông Nguyễn Nghĩa T4, ông Lê Công P và ông Nguyễn Văn D1 có đơn xin vắng mặt nên Toà án căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các ông bà nêu trên.
6
[5] Về yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn.
Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì thấy có cơ sở xác định đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B có nguồn gốc do vợ chồng cụ L, cụ T6 khai phá. Năm 2004 cụ T6 chết, các thửa đất trên được cấp quyền sử dụng đất cho cụ Trần Văn L vào năm 2006, cụ L chết năm 2010 nên xác định đây là di sản thừa kế của cụ L và cụ T6 để lại. Ông T2 cũng thừa nhận các thửa đất này là di sản của cha mẹ, trước đây ông là anh lớn nên cùng cha mẹ khai phá, canh tác, khi ông lập gia đình ra riêng thì mới giao lại cho gia đình canh tác, đến năm 2013 thì giao cho ông V trực tiếp quản lý đất.
Ông V cho rằng các thửa đất này đã được thoả thuận chia thừa kế theo nội dung văn bản chia thừa kế lập vào ngày 17/6/2013 tại trụ sở khu phố A phường X. Xem xét về nội dung, hình thức của văn bản nêu trên thì thấy đây chỉ là văn bản hoà giải của khu phố về việc chia thừa kế, ghi nhận ý kiến của các đồng thừa kế về việc chia di sản thừa kế của cụ T6, cụ L, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, về nội dung thì ghi nhận ý kiến của các đồng thừa kế về việc chia di sản, cụ thể: 01 căn nhà ở đường T, đất mặt tiền ở B chia đều cho 5 anh em, ông V được hưởng đất ruộng và đất rẫy ở R.
Tuy nhiên sau đó các bên không làm văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế đối với các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B theo quy định, ông V chưa làm các thủ tục đăng ký đối với di sản thừa kế mà ông cho rằng được chia cho ông. Do đó việc ông V căn cứ vào biên bản hoà giải của khu phố để yêu cầu được chia toàn bộ di sản là các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B là không có cơ sở chấp nhận, vì đây chỉ là văn bản ghi nhận ý kiến thoả thuận của đồng thừa kế, chưa có hiệu lực để buộc các bên phải thực hiện cũng như để ông V làm thủ tục đăng ký đối với di sản thừa kế được nhận.
Quá trình làm việc và tại phiên toà sơ thẩm ông T2, bà X, bà D và ông N1 không đồng ý về nội dung này, các ông bà cho rằng văn bản hoà giải năm 2013 chỉ ghi nhận giao đất ruộng cho ông V canh tác chứ không chia thừa kế nên sau đó ông bà mới không ký các thủ tục chia thừa kế theo quy định cho ông V.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của ông V cũng thống nhất các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B được chia thừa kế theo pháp luật cho 05 đồng thừa kế, mỗi người được 01 kỷ phần thừa kế.
Di sản thừa kế là đất theo vị trí thì chia thành 2 nhóm: nhóm 1 gồm các thửa 203, 213, 214, 215 có vị trí nằm ở phía sau các căn nhà của bà D, bà X và ông V.
7
Trên đất này ông V trồng cam, bưởi, mít siêu sớm, điều, tiêu, tràm, các thửa đất này nằm liền kề nhưng chéo nhau và không tiếp giáp với đường đi công cộng. Nhóm 2 gồm các thửa 220, 221, 222, trên đất này có trồng khoảng 1.000 cây tràm 04 tháng tuổi, các thửa đất này nằm liền kề nhau trong đó thửa 220 và 221 tiếp giáp đường đất, còn thửa 222 nằm bên trong không giáp đường đi công cộng.
Với vị trí, diện tích của từng thửa đất nêu trên thì không thể chia thừa kế bằng hiện vật. Tại phiên toà sơ thẩm các đồng thừa kế thống nhất chia toàn bộ di sản thừa kế cho ông V được quyền sử dụng, ông V thanh toán cho các đồng thừa kế giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá xác định. Điều này cũng phù hợp vì hiện nguyên đơn là người trực tiếp canh tác, trồng cây, quản lý đất từ năm 2013 cho đến nay nên ghi nhận.
Kết quả đo đạc cho thấy diện tích theo hiện trạng sử dụng và theo bản đồ địa chính được cấp giấy chứng nhận có biến động chênh lệch, Toà án đã lấy lời khai của các chủ đất giáp ranh thì có người đồng ý theo ranh hiện trạng, có người yêu cầu giải quyết theo ranh bản đồ địa chính, ông T2, bà X, bà D và ông N1 cũng yêu cầu căn cứ vào diện tích ranh giới bản đồ địa chính để chia thừa kế. Quyền sử dụng đất của cá nhân được nhà nước công nhận theo ranh giới diện tích của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, do có đương sự không thống nhất theo ranh hiện trạng nên Toà án căn cứ vào diện tích của bản đồ địa chính được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chia cho các đương sự. Sau này các bên đương sự sẽ tự thoả thuận điều chỉnh khi đăng ký biến động hoặc phát sinh tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác.
Hội đồng định giá tài sản xác định các thửa 203, 213, 214, 215 có giá theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 250.000.000 đồng/1.000m², các thửa 220, 221, 222 có giá theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 350.000.000 đồng/1.000m².
Các thửa 203, 213, 214, 215 có tổng diện tích 4.553m² x 250.000 đồng/m² = 1.238.250.000 đồng. Các thửa 220, 221, 222 có tổng diện tích 10.145m² x 350.000 đồng/m² = 3.550.750.000 đồng. Tổng cộng là 4.789.000.000 đồng /5 phần = 957.800.000 đồng/01 kỷ phần thừa kế.
Về việc nguyên đơn yêu cầu tính công sức giữ gìn, tôn tạo, quản lý, nguyên đơn trực tiếp quản lý đất từ năm 2013, có công sức trong việc tôn tạo, giữ gìn di sản thừa kế nhưng không lớn vì đất các thửa 220, 221, 222 bị trũng, không trồng trọt gì, sau này trồng cây tràm nhưng phát triển không tốt. Đất thửa 203, 213, 214, 215 có trồng 01 số cây lâu năm và nguyên đơn được hưởng toàn bộ hoa màu trên
8
đất này. Do đó việc nguyên đơn yêu cầu tính công sức quản lý bằng 10% tổng giá trị di sản thừa kế là quá cao, chỉ chấp nhận 3% là 143.670.000 đồng.
Như vậy nguyên đơn phải thanh toán cho ông T2, ông N1, bà X, bà D mỗi người 957.800.000 đồng, ngược lại ông T2, ông N1, bà X, bà D mỗi người thanh toán cho nguyên đơn là 35.917.500 đồng, khấu trừ thì nguyên đơn còn thanh toán cho ông T2, ông N1, bà X, bà D mỗi người là 921.882.500 đồng.
[6] Về chi phí tố tụng: nguyên đơn nộp 18.849.000 đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng, các đồng thừa kế được chia di sản phải thanh toán lại cho nguyên đơn 1/5 chi phí nêu trên là 3.769.000 đồng.
[7] Về án phí: Các đồng thừa kế chịu án phí đối với phần di sản thừa kế được nhận là 39.656.475 đồng. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông V, ông T2, bà X, ông N1 do là người trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí, bà D phải chịu 39.656.475 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh chỉ được chấp nhận đối với những phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 26, 35, 85, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 99 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn V về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn L, cụ Phan Thị T6 và yêu cầu tính công sức quản lý, giữ gìn di sản thừa kế.
- Di sản thừa kế của Trần Văn L và cụ Phan Thị T6 là đất thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 709805 cấp ngày 07/11/2006, số AG 709799 cấp ngày 07/11/2006, số AG 709803 cấp ngày 07/11/2006, số CP 254641 cấp ngày 05/10/2018, số CP 254694 cấp ngày 05/10/2018 cấp cho cụ Trần Văn L.
- Chia cho ông Trần Văn V được quyền sử dụng đối với tổng diện tích đất 15.016,9 m² thuộc các thửa 213, 220, 221, 222, 203, 214 và 215 tờ bản đồ 12 xã B, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 709805 cấp ngày 07/11/2006, số AG 709799
9
cấp ngày 07/11/2006, số AG 709803 cấp ngày 07/11/2006, số CP 254641 cấp ngày 05/10/2018, số CP 254694 cấp ngày 05/10/2018 cấp cho cụ Trần Văn L.
- Buộc ông Trần Văn V phải thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế như sau:
+ Thanh toán cho ông Trần Văn T2 số tiền 921.882.500 (Chín trăm hai mươi mốt triệu tám trăm tám mươi hai ngàn năm trăm) đồng.
+ Thanh toán cho ông Trần Văn N1 số tiền 921.882.500 (Chín trăm hai mươi mốt triệu tám trăm tám mươi hai ngàn năm trăm) đồng.
+ Thanh toán cho Bà Trần Thị X số tiền 921.882.500 (Chín trăm hai mươi mốt triệu tám trăm tám mươi hai ngàn năm trăm) đồng.
+ Thanh toán cho bà Trần Thị Mỹ D số tiền 921.882.500 (Chín trăm hai mươi mốt triệu tám trăm tám mươi hai ngàn năm trăm) đồng.
- Về chi phí tố tụng: buộc ông Trần Văn T2, ông Trần Văn N1, bà Trần Thị X, bà Trần Thị Mỹ D, mỗi người hoàn trả lại cho ông Trần Văn V 3.769.000 đồng tiền chi phí tố tụng.
- Ông Trần Văn V được quyền liên hệ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đối với tài sản được chia thừa kế theo bản án của Tòa án.
Ông Trần Văn T2 phải giao cho ông Trần Văn V bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Trần Văn L gồm: số AG 709805 cấp ngày 07/11/2006, số AG 709799 cấp ngày 07/11/2006, số AG 709803 cấp ngày 07/11/2006, số CP 254641 cấp ngày 05/10/2018, số CP 254694 cấp ngày 05/10/2018 để ông V làm các thủ tục liên quan đến việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đối với tài sản được chia thừa kế.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (sau khi án có hiệu lực pháp luật), hàng tháng người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí:
+ Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn V, ông Trần Văn T2, bà Trần Thị X và ông Trần Văn N1.
+ Bà Trần Thị Mỹ D phải chịu 39.656.475 (Ba mươi chín triệu sáu trăm năm mươi sáu ngàn bốn trăm bảy mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, Người phảo thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
10
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà X, ông N1, bà D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Long Khánh;
- Lưu án văn;
- Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Mỹ Lệ |
11
Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 33/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn
