|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-6-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Vân Khánh
- Bà Nguyễn Ngọc Nhuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Quốc D, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2024 (Tòa án nhận ngày 28/3/2024), quá trình hòa giải, nguyên đơn là chị Lê Thị Kim N trình bày tóm tắt như sau: Thông qua mai mối, chị và anh D đã tìm hiểu được một thời gian và quyết định tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/5/2021, số 23/2021. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống cùng gia đình bên anh D và có 01 con chung là Lê Quốc T, sinh ngày 10/02/2023. Tuy nhiên, từ sau khi chị sinh con, thì anh D không còn quan tâm như trước nữa, mà luôn thờ ơ trước những tâm sự của chị, bên gia đình anh D cũng không ai có thiện cảm với chị, nên làm cho chị luôn cảm thấy cô độc không biết bày tỏ cùng ai, dẫn đến tình cảm giữa chị và anh D rơi vào bế tắc, không còn như trước. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân của cả hai đã lâm vào trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh D. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định để các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Lê Quốc D trình bày: Anh D thống nhất với ý kiến trình bày của chị N về quá trình quen biết, tìm hiểu, thời gian cưới nhau, kết hôn và con chung. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống cùng gia đình bên anh D, do bận công việc buôn bán xa nhà nên anh D thường xuyên vắng nhà, khi chị N về nhà cha mẹ ruột sinh sống thì anh D có đến để rướt về nhưng chị N không đồng ý. Nguyên nhân là do trước đó giữa gia đình chị N và gia đình anh D có phát sinh mâu thuẫn, có lời qua tiếng lại. Anh D xác định vẫn còn tình cảm với chị N, tuy vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng không có gì trầm trọng, không đến mức phải ly hôn, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp phải ly hôn, anh D đồng ý để chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Quốc T, sinh ngày 10/02/2023, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, các đương sự trình bày ý kiến bổ sung như sau:
Chị N xác định khi chị sinh con được khoảng 01 tháng thì mẹ chồng báo cho cha mẹ ruột của chị kêu chị phải xuống cửa hàng bánh mì của gia đình chồng phụ bán, nhưng cha mẹ chị không đồng ý, nên mới phát sinh mâu thuẫn. Trong thời gian đó, qua xem camera, chị còn phát hiện chú chồng và mẹ chồng còn có lời nói xúc phạm chị, kêu chồng chị bỏ chị và sẽ cưới vợ khác cho chồng chị, nên mâu thuẫn giữa hai bên càng trầm trọng hơn. Trong khi đó, thì anh D không thể hiện trách nhiệm của người chồng, không quan tâm đến chị và con, không chu cấp bất kỳ khoản tiền nào cho chị và con từ khi chị sinh con cho đến nay. Nay chị N xác định tình cảm đã không còn, nên cương quyết ly hôn, không đồng ý tạo điều kiện cho anh D đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Anh D xác định có việc sau khi chị N sinh con khoảng 01 tháng thì mẹ ruột của anh có liên hệ với mẹ ruột của chị N để kêu chị N xuống cửa hàng bánh mì của gia đình anh để phụ bán, nhưng bên gia đình chị N không đồng ý, nên có phát sinh mâu thuẫn. Về việc mẹ anh và chú anh nói sẽ kêu anh bỏ chị N để cưới người khác là có, nhưng chỉ là trao đổi nội bộ gia đình, khi đó anh không biết, nên sau khi biết được thì anh đã có đến năn nỉ chị N, nhưng chị N không bỏ qua. Anh D cũng thừa nhận là từ khi chị N sinh con đến nay, anh chưa chu cấp bất kỳ khoản tiền nào để phụ chăm sóc, nuôi dưỡng vợ con. Bởi vì khi đó, anh bận bán hàng và mỗi khi anh đến rướt chị N về chung sống thì chị N không đồng ý nên anh chưa thực hiện được việc chăm sóc vợ con. Nay anh cam kết sẽ khắc phục các thiếu sót, cam kết sẽ chu cấp đầy đủ cho vợ con và đưa vợ con về sống chung nhà, cha mẹ ruột của anh cũng đã hứa sẽ tạo điều kiện cho vợ chồng về sinh sống tại căn nhà ở xã T, còn cha mẹ anh sẽ chuyển xuống cửa hàng bánh mì sinh sống, mong Tòa án tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các bên đoàn tụ. Qua hòa giải, các bên không thỏa thuận được với nhau về việc ly hôn hay đoàn tụ, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét tính hợp pháp về quan hệ hôn nhân giữa các bên, thấy rằng: Chị N và anh D cưới nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/5/2021, số 23/2021, nên quan hệ hôn nhân của chị N và anh D là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị N thấy rằng: Nguyên nhân chị N xin ly hôn là vợ chồng có phát sinh một số mâu thuẫn, do người thân của anh D có lời nói xúc phạm chị N và cha mẹ chị N, anh D cũng không quan tâm, chăm sóc chị N từ khi sinh con cho đến nay. Anh D thừa nhận có việc anh thiếu quan tâm, chăm sóc vợ con và thừa nhận có một số mâu thuẫn giữa gia đình hai bên, nhưng giữa người lớn cũng đã ngồi lại nói chuyện với nhau và cha mẹ anh D cũng đã có nhận lỗi. Chị N cũng xác định ngoài mâu thuẫn nêu trên thì giữa chị và anh D không có mâu thuẫn nào khác về tình cảm. Quá trình hòa giải cho đến tại phiên tòa, anh D luôn thể hiện tình cảm còn thương yêu vợ con, thể hiện ý chí muốn đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy rằng, các mâu thuẫn giữa chị N và anh D không phải là mâu thuẫn trực tiếp của vợ chồng mà chỉ là mâu thuẫn gián tiếp từ người thân của 02 bên, liên quan đến việc người thân 02 bên không có cách ứng xử phù hợp khi phát sinh sự việc liên quan đến việc kinh doanh của gia đình, từ đó làm cho anh D không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, nhưng những mâu thuẫn này có thể khắc phục được. Lý do chị N đưa ra để ly hôn chưa đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh D.
[2.3] Về quyền nuôi con chung, về tài sản chung, nợ chung: Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, nên Hội đồng xét xử không xem xét các vấn đề liên quan đến quyền nuôi con chung, về tài sản chung, nợ chung.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Anh D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Kim N đối với anh Lê Quốc D.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Chuyển số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu số 0003586 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang thi hành án phí, nên chị N không phải nộp tiếp. Anh D không phải chịu án phí.
- Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ngân xin ly hôn với anh Duy vì mâu thuẫn gia đình
