Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CƯ M'GAR

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21/6/2024

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dự

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Y Tha Mlô

- Ông Trương Minh Mẫn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar tham gia phiên tòa:

Phạm Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mạc Thị T – sinh năm 1967 (có mặt)

Địa chỉ: C đường T, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

- Bị đơn: Ông Lê Hữu T1 - sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: C đường T, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn bà Mạc Thị T trình bày:

Tôi và ông Lê Hữu T1 kết hôn vào năm 1987, chúng tôi đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, chúng tôi kết hôn tự nguyện.

Trong thời gian chung sống vợ chồng, thì chồng hay bạo hành tôi, mỗi lần uống rượu vào là đánh đập, ghen tuông vô cớ vì con nhỏ nên tôi bỏ qua để con có mẹ và cho ông nhiều cơ hội nhưng vẫn chứng nào tật nấy, năm 2018 tôi đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn nhưng ông xin đoàn tụ và tôi đã rút đơn hiện nay tôi không chịu đựng được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Tôi và ông Lê Hữu T1 có 03 con chung là Lê Hữu T2 – sinh năm 1987, cháu Lê Hữu Nguyên s năm 1989, cháu Lê Mạc Hữu T3 - sinh năm 1996, hiện các con chung đã trưởng thành và tự chăm lo được cho bản thân nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chúng tôi thỏa thuận giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lê Hữu T1 trình bày:

Tôi và vợ tôi là bà Mạc Thị T kết hôn vào năm 1987, chúng tôi đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi kết hôn tự nguyện.

Vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn từ khoảng năm 2018 đến nay, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn do tôi hay uống rượu say rồi dẫn đến ghen tuông vu vơ với vợ và một phần do tôi bị bệnh nên ức chế hay chửi vợ tôi. Nay vợ tôi đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với tôi thì tôi mong muốn được giải quyết đoàn tụ với nhau, vì chúng tôi cũng lớn tuổi rồi.

Về con chung: Tôi và bà Mạc Thị T có 03 con chung là cháu Lê Hữu T2 - sinh 1987, cháu Lê Hữu N – sinh năm 1989 và cháu Lê Mạc Hữu T3 - sinh năm 1996. Hiện nay con chung đã lớn và tự chăm lo cho bản thân được.

Về tài sản chung: Chúng tôi thỏa thuận giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Lê Hữu T1 trình bày ông vẫn mong muốn đoàn tụ tuy nhiên bà T nhất quyết ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar phát biểu như sau:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà Mạc Thị T và ông Lê Hữu T1 có kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 21/3/1987 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, trong quá trình chung sống vợ chồng bà T và ông T1 xảy ra bất hòa, mâu thuẫn, cuộc sống không hòa hợp. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T và ông T1 ly hôn. Về con chung: Các con chung đã thành niên nên không xem xét giải quyết; Về tài sản chung: Bà T, ông T1 không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra để xem xét giải quyết. Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mạc Thị T và ông Lê Hữu T1 tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, Đắk Lắk vào ngày 21/3/1987 (giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 02), đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Nguyên đơn bà Mạc Thị T xác định, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà T cho rằng cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, ông T1 cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, Hội đồng xét xử thấy rằng cuộc sống hôn nhân của bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị T.

- Về con chung: Bà Mạc Thị T và ông Lê Hữu T1 có 03 con chung là cháu Lê Hữu T2 - sinh ngày 11/12/1987; cháu Lê Hữu N – sinh ngày 18/9/1989 và cháu Lê Mạc Hữu T3 - sinh ngày 09/08/1996.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà T và ông T1 xác định các con chung đã thành niên và tự lo được cho bản thân nên không đề nghị giải quyết do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Mạc Thị T và ông Lê Hữu T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Mạc Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 241; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị Thanh

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Mạc Thị T được ly hôn với ông Lê Hữu T1
  2. Về con chung: Không xem xét giải quyết
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Nguyên đơn bà Mạc Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0014998 ngày 04/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Cư M'gar;
  • - Chi cục THA DS huyện Cư M'gar;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP .

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Dự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger