Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/DS-PT

Ngày 21 tháng 02 năm 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tú, bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Sắc- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2024/TLPT- DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS- ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 315/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 464/2024/QĐ-PT ngày 27/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐ-PT ngày 23/01/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắc Lắc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Việt D, sinh năm 1970; địa chỉ: Số A, ngách C phố H, tổ H, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn H: Luật sư Nguyễn Hồng H1- Công ty L1, địa chỉ: Phòng C1, ngõ A, đường H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1964. Địa chỉ: TDP T, phường V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960;
  2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982;
  3. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984;
  4. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1986;

Cùng địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắc Lắc.

Đại diện theo ủy quyền của bà T, anh T1, chị T2 và anh M: Ông Trần Việt D, sinh năm 1970; địa chỉ: Số A, ngách C phố H, tổ H, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1972; Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1995; Có mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1953. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: TDP T, phường V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

  1. Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Bắc Giang do bà Thân Thị L – Phó trưởng phòng Tài nguyên và môi trường đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Ông được bố mẹ giao lại mảnh đất thổ cư (đất ở) được Nhà nước cấp năm 1970 - 1971 theo quy hoạch của tỉnh có tổng diện tích là 1 sào 3 thước = 432 m², năm 2000 ông đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ số Q 628933, số tờ bản đồ 20, số thửa 181 (360 m² đất ở và 88 m² đất vườn).

Khoảng năm 1991-1992, ông Nguyễn Văn P (là em ruột ông H) lấy bà Nguyễn Thị T3 và đã được HTX nông nghiệp cấp cho 1 lô đất 360 m² ở trên núi. Ông P sử dụng một thời gian ngắn sau đó đã bán cho ông Nguyễn Văn N người cùng thôn khoảng năm 1992.

Năm 1988, theo chủ trương, chính sách của Nhà nước về quy đổi đất liền kề với 3 mức quy đồi 1/3 - 1/6 – 1/9 trừ vào đất 5% rau xanh, được sử dụng đất liền kề (thùng ao) gia đình ông phải trừ mất (115 m² đất 10% rau xanh) được sử dụng 406 m² đất liền kề.

Năm 2005, thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước dồn điền đổi thửa gia đình ông vẫn bị trừ (115 m² 10% đất rau xanh) được sử dụng 406 m² đất liền kề (thùng ao) như cũ cho đến nay. Năm 1997, do đời sống kinh tế khó khăn, gia đình ông vào M làm kinh tế. Năm 1998 – 1999, ông P ở quê có đặt vấn đề với gia đình ông xin cho ở nhờ, do là tình anh em ruột nên ông đồng ý cho ở nhờ.

Đầu năm 2017, do tuổi cao sức yếu nên ông quay về quê sinh sống. Khi về, ông bất ngờ thấy ông P xây nhà kiên cố trên đất quy đổi của gia đình ông cho ở nhờ, qua tìm hiểu và ông trực tiếp có ý kiến với ông P nhiều lần yêu cầu ông P trả lại đất cho gia đình ông nhưng ông P nói thửa đất ông P đã được cấp GCNQSDĐ (viêt tắt là GCNQSDĐ) đứng tên ông P (là thửa đất chuyển đổi trừ 10% rau xanh của ông), gia đình ông không hề biết, ông P đã giả mạo chữ của ông ký thay tên ông vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ. Khi ông đòi lại đất ông P không trả, anh em bất đồng, dẫn đến mâu thuẫn.

Nay ông yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Văn P tháo dỡ các công trình xây dựng và tài sản trên thửa đất số 180, tờ bản đồ 20 có diện tích 410m² của gia đình ông đã bị trừ diện tích rau xanh để trả lại đất cho ông.

- Đề nghị hủy GCNQSDĐ ở đã cấp cho ông Nguyễn Văn P. Do có những hành vi cố ý làm trái pháp luật, cấp không đúng đối tượng và không đúng trình tự theo quy định của luật đất đai.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:

Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn N1, sinh năm 1911 (đã mất năm 1986) và cụ Nguyễn Thị C, sinh năm 1921 (đã mất năm 2014). Trước khi mất, cụ N1, cụ C không để lại di chúc. Cụ N1 và cụ C sinh được 7 người con gồm:

  1. Bà Nguyễn Thị M1 (đã mất năm 2022);
  2. Bà Nguyễn Thị V;

Địa chỉ: T, V, V, Bắc Giang;

  1. Ông Nguyễn Duy H3 (liệt sĩ);
  2. Ông Nguyễn Văn H;
  3. Ông Nguyễn Văn P;
  4. Ông Nguyễn Văn T4 (mất lúc 6 tuổi)
  5. Bà Nguyễn Thị T5 (mất lúc 7 tuổi).

Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa ông H và ông là đất công ích (thùng ao liền kề) do Nhà nước quản lý. Năm 1988, mẹ ông là cụ C; ông H, ông, bà T (vợ ông H), chị T2, anh T1, anh M (các con của ông H) cùng sinh sống trên thửa đất của bố mẹ ông (thửa đất số 181 do ông H đang quản lý hiện nay). 7 người trên cùng ông H3 (đã mất) được hưởng định suất rau xanh (mỗi người hưởng 96m² diện tích đất rau xanh). Tổng diện tích đất rau xanh của 8 người là 768m². Thực hiện chủ trương của Hợp tác xã về việc quy đổi đất rau xanh. Gia đình ông bị trừ 110m² đất rau xanh đổi lấy 410m² đất ao (là thửa đất số 180 đang tranh chấp hiện nay). Việc đổi đất rau xanh nêu trên để lấy phần đất ao thì ông H và gia đình ông H đều biết và không có ý kiến gì. Quá trình sinh sống mẹ ông (cụ C) có nói miệng cho ông H ở phần đất phía trong, vợ chồng ông ở phần đất ngoài thùng ao đã đổi.

Năm 1992, ông kết hôn với bà T3. Sau khi kết hôn, năm 1993 mẹ ông cho vợ chồng ông ở riêng trên thửa đất đang tranh chấp. khi ở trên thửa đất này ông làm 3 gian nhà ngói nhỏ và 2 gian công trình phụ, sân thềm. Thời điểm này, ông H đang ở ngôi nhà 5 gian trên thửa đất của bố mẹ ông và thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ đứng tên ông H (thửa đất hướng đông bắc liền kề với thửa đất đang tranh chấp). Vợ chồng ông sống ổn định lâu dài từ năm 1993, tân tạo, xây dựng các công trình trên đất không ai có ý kiến gì. Cụ thể:

  • Năm 1993 xây dựng 3 gian nhà ngói và 02 gian công trình phụ, sân thềm.
  • Năm 1998 xây thêm công trình phụ;
  • Năm 2004 xây dựng nhà trần 2 tầng đang ở như hiện nay.
  • Năm 2020, xây quán trên toàn bộ diện tích còn lại.

Năm 1999, 2000 nhà nước có chủ trương cấp GCNQSDĐ cho các hộ trong thôn trong đó có gia đình ông, gia đình ông H. UBND xã V (nay là phường V và chính quyền thôn thực hiện việc điều tra, đo đạc để cấp GCNQSDĐ, không có tranh chấp gì, đều nhất trí với diện tích đo. Năm 2001, ông và ông H đều được cấp GCNQSDĐ. Thời điểm cấp GCNQSDĐ, ông H và gia đình không ai tranh chấp, ý kiến gì.

Năm 2020, ông H về xin ông đất cho con, ông nhất trí chia mỗi anh em ½ diện tích đất mặt đường bao gồm cả đất của ông H (liền kề bên trong) nhưng ông H không đồng ý mà đòi 2 phần chỉ cho ông 1 phần, Do vậy ông H đã khởi kiện ông đến Tòa án. Nay ông xác định thửa đất tranh chấp đã được cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông là hợp pháp, theo đúng trình tự quy định nên ông không chấp yêu cầu khởi kiện của ông H.

Ngoài ra ông không trình bày gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Văn M do ông Nguyễn Văn H đồng ý với lời trình bày của nguyên đơn không bổ sung gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T3, anh Nguyễn Văn H2 và chị Nguyễn Thị P1 đồng ý với quan điểm trình bày của bị đơn không bổ sung nội dung nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND thị xã V do bà Thân Thị L đại diện trình bày:

Thửa đất TAND thị xã đang giải quyết là thửa số 180, tờ bản đồ 20, diện tích 410m², đã được UBND huyện V cấp GCN QSD đất số vào sổ 02615 ngày 04/07/2021 mang tên hộ ông Nguyễn Văn P và thửa số 181, tờ bản đồ 20, diện tích 448m² (trong đó 360m² đất ở; 88m² đất vườn trồng cây lâu năm) được UBND huyện V cấp GCN QSD đất số vào sổ 01546, ngày 15/11/2000 mang tên hộ ông Nguyễn Văn H; 02 thửa đất cùng có địa chỉ tại thôn T, xã V, huyện V (nay là TDP T, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

Đối với thửa đất số 181, tờ bản đồ 20 (GCN QSD đất mang tên hộ ông H): Nguồn gốc thửa đất là do cha ông để lại cho bố mẹ ông H, ông P. Trước năm 1996, vợ chồng ông H sinh sống cùng mẹ và các anh chị em ông H trên thửa đất này (trong đó có ông P). Khoảng năm 1992-1993, ông P kết hôn và chuyển đến sinh sống riêng trên thửa đất số 180 giáp ranh. Khoảng năm 1996-1997 vợ chồng ông H và các con ông H đi miền N sinh sống, mẹ ông H chuyển đến sinh sống cùng vợ chồng ông P trên thửa đất số 180, còn thửa đất số 181 này không ai quản lý, sử dụng (khoảng năm 2015-2017, khi ông H trở về địa phương cũng không sử dụng thửa đất này)

Năm 1999, thửa đất được kê khai, cấp GCN QSD đất và được UBND huyện cấp GCN QSD đất số vào sổ 01546 ngày 15/11/2000 mang tên hộ ông Nguyễn Văn H (qua lời khai của các cá nhân liên quan, hiện chưa xác định được chính xác cá nhân trực tiếp kê khai, ký hồ sơ cấp GCN QSD đất). Như vậy tại thời điểm kê khai, lập hồ sơ cấp GCN QSD đất thì gia đình ông H không có ai có mặt tại địa phương.

Đối với thửa đất số 180, tờ bản đồ 20 (GCN QSD đất mang tên hộ ông P): Nguồn gốc thửa đất là gia đình bà C (mẹ ông H, ông P) đổi rau xanh ngoài đồng lấy đất ao trong khu dân cư từ năm 1988. Các khẩu của hộ bà C được tính định suất khi đổi rau xanh gồm bà C (chết năm 2014), 3 người con bà C (ông H, P, Hy- trong đó ông H3 là liệt sỹ hy sinh năm 1966 nhưng địa phương có chính sách có tính diện tích đất rau xanh cho liệt sỹ); 3 con ông H ( T6, M, T2) và vợ ông H (bà T),

Theo lời khai của ông P thì khoảng năm 1992-1993, ông P kết hôn và chuyển đến sinh sống riêng trên thửa đất số 180, xây dựng nhà ở và công trình phục vụ đời sống, sử dụng ổn định không ai có ý kiến tranh chấp gì (tính đến trước thời điểm ông H khởi kiện). Năm 1999, ông P kê khai cấp GCN QSD đất và được UBND huyện cấp GCN QSD đất mang tên hộ ông P. Hiện tại gia đình ông P vẫn đang sinh sống trên thửa đất này.

Kiểm tra hồ sơ và GCN QSD đất cho thửa số 180 thấy có một số nội dung không đầy đủ, không phù hợp: không đúng hạn mức đất ở (hạn mức 360m² đất ở); đổi rau xanh lấy đất ao nhưng hồ sơ thiết lập và GCN QSD đất cấp đất ở, không có ký xác nhận và ghi ý kiến của phòng Địa chính nông nghiệp (nay là phòng T8) tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất.

Về đối tượng sử dụng đất và được cấp GCN QSD đất: Nguồn gốc là đất đối tính trừ đất rau xanh của 08 khẩu (trong đó có 1 phần của ông P). Ông P được mẹ và các thành viên trong gia đình cho ra ở trên thửa đất này từ năm 1993, có xây dựng nhà ở và công trình phục vụ đời sống, sử dụng ổn định không ai có ý kiến tranh chấp gì (tính đến trước thời điểm ông H khởi kiện), đồng thời đã được UBND huyện cấp GCN QSD đất. Theo nội dung án lệ số 03 do Hội đồng thẩm phán tối cao công bố ngày 6/4/2016 tại Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 6/4/2016 của Chánh án TAND tối cao thì xác định mẹ và các thành viên trong gia đình đã cho thửa đất này. Do đó không cần xem xét đến việc GCN QSD đất diện tích đất là đất đổi tính trừ rau xanh của 08 khẩu nhưng cấp GCN QSD đất cho hộ ông P.

Đối với việc cấp GCN QSD đất đối với 02 thửa số 180 và thửa số 181

- GCN QSD đất cấp cho thửa số 181 mang tên hộ ông H: Thời điểm kê khai, lập hồ sơ cấp GCN QSD đất, gia đình ông H không ai có mặt tại địa phương nhưng hồ sơ có ký kê khai của ông H là không phù hợp thực tế. Gia đình ông H cũng không trực tiếp sử dụng đất từ năm 1996-1997 nên cấp GCN QSD đất cho hộ ông H là không đủ điều kiện cấp QSD đất.

- GCN QSD đất cấp cho thửa số 180 mang tên hộ ông P: GCN QSD đất cấp không đúng hạn mức đất ở, không đúng mục đích sử dụng đất, không đầy đủ trình tự thủ tục.

Quan điểm đối với việc cấp GCN QSD đất;

GCN QSD đất cấp cho thửa số 180, 181 không đúng quy định pháp luật và thuộc trường hợp phải thu hồi theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 16 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên để giải quyết dứt điểm vụ án, đề nghị TAND thị xã giải quyết theo quy định. Sau khi có Bản án có hiệu lực của TAND, UBND thị xã thực hiện bản án theo quy định.

Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang giải quyết theo quy định pháp luật.

Xác minh tại Công an phường V cung cấp như sau:

Tại thời điểm trước năm 1992, hộ cụ Nguyễn Văn N1, cụ Nguyễn Thị C (bố mẹ đẻ của ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn P gồm có 6 thành viên: 1. Cụ Nguyễn Văn N1, sinh năm 1911 là chủ hộ;

  1. Cụ Nguyễn Thị C, sinh năm 1921;
  2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1953;
  3. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958;
  4. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1960 (chết năm 1968)
  5. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1965;

Tại sổ hộ khẩu tập số 01, Hợp tác xã T9 bắt đầu ngày 09/5/1992 kết thúc ngày 09/5/1992 thể hiện hộ ông Nguyễn Văn H gồm 6 thành viên:

  1. Cụ Nguyễn Thị C, sinh năm 1921;
  2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958;
  3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960;
  4. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982;
  5. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984;
  6. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1986;

Hộ nhà ông Nguyễn Văn P có 1 khẩu là ông P.

Ngoài ra không còn thông tin lưu trữ hộ khẩu nào khác của ông H, ông P.

Xác minh tại UBND phường V, thị xã V Ngày 11/3/2024:

Năm 1988 được Hợp tác xã T9 thực hiện chủ trương chia ruộng rau xanh (hay còn gọi là đất 10%). Thời điểm này hộ gia đình ông Nguyễn Văn H có 08 nhân khẩu: Gồm cụ Nguyễn Thị C, vợ chồng ông H và 3 con của vợ chồng ông H, ông P và 1 suất của ông H3 (liệt S). Gia đình cụ C bị trừ 110m² đất ra xanh. Cụ thể:

  • 210m² đất vườn bị trừ 70m² đất rau xanh (tỷ lệ 1/3);
  • 150m² đất ao bị trừ 25m² đất rau xanh (tỷ lệ 1/6);
  • 46m² đất tre bị trừ 15m² đất rau xanh (tỷ lệ 1/3);

Tổng quy đổi đất ao, vườn tre: 406 m². Tổng đất rau xanh bị trừ 110m2. Tổng diện tích đất rau xanh bị trừ được xác định trừ vào tổng diện tích đất rau xanh cũng của hộ gia đình cụ C, không tách bạch trừ cụ thể vào phần nhân khẩu nào. Năm 2005 thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa (bản chất giữ nguyên diện tích năm 1988 đã chia. Thời điểm này ông P đã kết hôn, hộ ông P được tách ra 02 suất (hai nhân khẩu là ông P và vợ) được hưởng 96m²/1 người), tổng là 192m² diện tích đất rau xanh của hộ ông H còn lại là 562m².

Nguồn gốc thửa đất 180 (thửa đất hiện đang tranh chấp), 181, tờ bản đồ số 20 tại thôn T, xã V là do ông cha để lại sử dụng từ trước năm 1970. Năm 1992 gia đình cụ C có hai người con trai là ông H và ông P nên theo tiêu chuẩn được chia 1 lô đất khác gần núi thuộc thôn T, vợ chồng ông P lên đó ở đến khoảng năm 1993 bán thửa đất này sau đó về sống cùng cụ C và vợ chồng ông H, sau đó ông P làm nhà sinh sống trên thửa đất đang tranh chấp thời điểm này vợ chồng ông H cùng con cái vẫn đang sống trên đất 181 (thửa đất ông H đang đứng tên quyền sử dụng đất). Khoảng năm 1997, ông H vào Miền nam làm ăn, sau đó một thời gian vợ con ông H vào cùng, thỉnh thoảng ông H có về địa phương. Khoảng năm 2004 ông P có làm nhà ông 02 tầng trên đất. Thửa đất của ông H liền kề thửa đất đang tranh chấp đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ cuối năm 2000, thửa đất đang tranh chấp được cấp giấy CNQSDĐ năm 2001 cho hộ ông P.

Kết quả xem xét thẩm định, định giá ngày 08/12/2023;

Đất và tài sản gắn liền với đất số 180, tờ bản đồ số 20, diện tích 410m² tại thôn T, xã V, V, Bắc Giang. Được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ ngày 04/7/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn P.

Về các mặt tiếp giáp của thửa đất;

  • Phía Tây Nam giáp đường liên xã;
  • Phía T giáp đường ngõ;
  • Phía Đông Bắc giáp đất của hộ ông huynh;
  • Phía Đông Nam giáp đường ngõ;

Tài sản trên đất :

  • 01 nhà cấp 3 loại 2, công trình khép kín, xây tường chịu lực, xây năm 2004;
  • Nhà tạm vị trí gồm 1 phần phía trước mặt nhà cấp 3 loại 2 và toàn bộ khu giáp phía Đông Nam của nhà cấp 3 loại 2 có kết cấu khung sắt lợp tôn, có cửa cuốn, tường bao xung quanh xây năm 2020;
  • 01 nhà bếp loại B kết cấu khung sắt lợp Prô xi măng làm năm 2020;
  • Sân gạch;

Giá của các tài sản đã thẩm định do các đương sự không thống nhất được về giá nên Hội đồng định giá tiến hành định giá.

Ý kiến của các thành viên của Hội đồng định giá tài sản:

  • Về đất ở theo giá thị trường tại thời điểm tranh chấp có giá 22.000.000đồng ( Hai mươi hai triệu đồng/1m²)
  • Đối với đất vườn:

Theo giá thị trường tại thời điểm tranh chấp có giá 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) /1m²

  • Đối với tài sản trên đất:

- 01 nhà cấp 3 loại 2, công trình khép kín, xây tường chịu lực, xây dựng năm 2004 giá trị sử dụng còn lại 30% có giá 4.900.000đ/m².

- Nhà tạm vị trí gồm 1 phần phía trước mặt nhà cấp 3 loại 2 và toàn bộ khu giáp phía Đông Nam của nhà cấp 3 loại 2 có kết cấu khung sắt lợp tôn, có cửa cuốn, tường bao xung quanh xây dựng năm 2020 giá trị sử dụng còn lại 85%, có giá 1.460.000đồng/1m².

- Nhà bếp loại B kết cấu khung sắt lợp Prôxi măng làm năm 2020. Giá trị sử dụng còn 85%, có giá 1.090.000đ/1m².

- Sân gạch làm năm 2020 giá trị sử dụng còn 85% có giá 140.000đồng /1m².

Với nội dung trên, bản án dân sự số 66/2024/DS- ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158, Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn P trả lại thửa đất 180, tờ bản đồ 20, diện tích 410m² tại thôn T, xã V, huyện V (nay là tổ dân phố T, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCN QSD đất số vào sổ 02615 ngày 04/07/2021 mang tên hộ ông Nguyễn Văn P và phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng cũng như các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp 3 loại 2, nhà tạm, nhà bếp, S1 gạch để trả lại đất cho ông Nguyễn Văn H.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Ngày 10/10/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H do ông Trần Việt D đại diện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Bị đơn ông Nguyễn Văn P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn- Luật sư Nguyễn Hồng H1 trình bày luận cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Ông Nguyễn Văn H được miễn án phí DSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của bà Nguyễn Thị V và UBDN thị xã V (Do bà Thân Thị L đại diện theo ủy quyền) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này.

[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn H:

[2.1] Về nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn P phải trả thửa số 180, tờ bản đồ 20, diện tích 410m², đã được UBND huyện V cấp GCN QSD đất số vào sổ 02615 ngày 04/07/2021 mang tên hộ ông Nguyễn Văn P và tháo dỡ di dời toàn bộ công trình xây dựng và tài sản trên đất tại địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V (nay là tổ dân phố T, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

Về nguồn gốc thửa đất 180, tờ bản đồ 20 là do gia đình cụ C (mẹ ông H, ông P) đổi đất rau xanh (hay còn gọi là đất 10%) ngoài đồng lấy đất ao trong khu dân cư liền kề với thửa đất của gia đình từ năm 1988 khi đó có 08 nhân khẩu. Các khẩu của hộ cụ C được tính định suất khi đổi rau xanh gồm cụ C (chết năm 2014), 3 người con cụ C (ông H, P và ông H3- trong đó ông H3 là liệt sỹ hy sinh năm 1966 nhưng địa phương có chính sách có tính diện tích đất rau xanh cho liệt sỹ); 3 con của ông H ( T6, M, T2) và vợ ông H (bà T).

Do gia đình cụ C có hai người con trai là ông H và ông P khi ông P lập gia đình (năm 1992) nên theo tiêu chuẩn được chia 1 lô đất khác gần núi thuộc thôn T, vợ chồng ông P lên đó ở đến khoảng năm 1993 bán thửa đất này cho người khác sau đó về sống cùng cụ C và vợ chồng ông H, sau đó ông P làm 3 gian nhà cấp 4 và công trình phụ sinh sống trên một phần thửa đất đang tranh chấp, thời điểm này vợ chồng ông H cùng con cái vẫn đang sống trên thửa đất 181 (thửa đất ông H đang đứng tên quyền sử dụng đất). Khoảng năm 1997, ông H vào M làm ăn, sau đó một thời gian vợ con ông H vào cùng, thỉnh thoảng ông H có về địa phương. Khoảng năm 2004 ông P có làm nhà trần 02 tầng diện tích khoảng 60m²/sàn, năm 2020 ông P làm mái tôn trên toàn bộ diện tích đất còn lại để bán hàng.

Năm 1999 - 2000, Nhà nước có chủ trương cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, lúc này ông H không có mặt tại địa phương, ông P ở nhà đã làm thủ tục đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất quy đổi đất rau xanh đứng tên quyền sử dụng đất tên ông P nay là thửa đất 180, tờ bản đồ 20, diện tích 410m², đã được UBND huyện V cấp GCN QSD đất số vào sổ 02615 ngày 04/07/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn P. Thửa đất 181, tờ bản đồ 20 có diện tích 432 m² được kê khai, cấp GCN QSD đất và được UBND huyện cấp GCN QSD đất số vào số 01546 ngày 15/11/2000 mang tên hộ ông Nguyễn Văn H. Theo lời khai ban đầu của ông Nguyễn Văn P việc đăng ký kê khai đứng tên ông H là do ông P ở nhà kê khai hộ, nhưng sau đó ông P thay đổi lời khai là do ông H tự đi kê khai. Bởi vậy ông H khẳng định tại thời điểm đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất ông không có nhà nên không có việc ông H đăng ký kê khai quyền sử dụng đất mà ông lại tách thửa đất của mình nên ông đề nghị Toà án tiến hành giám định chữ ký tên tờ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất năm 1999. Toà án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết theo yêu cầu của ông H nhưng do mẫu vật chữ viết ông H cung cấp không đủ điều kiện giám định để xác định chữ kỹ, chữ viết trong tờ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất năm 1999 là do ông H viết ký hay không.

Theo điều 2- Luật đất đai năm 1993 quy định thì Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp GCNQSDĐ. Việc năm 1988 thôn Trúc tay có xét việc đổi đất 10% với đất ao, búi tre chỉ là việc thực hiện của thôn không có căn cứ hoặc theo chính sách đất đai và không có căn cứ theo quy định của pháp luật, quá trình xem xét việc cấp GCNQSDĐ, UBND huyện V (nay là thị xã V) cũng không xem xét đến việc thực hiện này nên nội dung này không đặt ra xem xét. Hơn nữa năm 1997, ông H cũng không còn sinh sống tại địa phương mà đã vào tỉnh Đắk Lắk làm ăn, sinh sống cho đến nay. Năm 1999-2000 huyện V (nay là thị xã V) thực hiện cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân tự kê khai và chịu trách nhiệm về nguồn gốc và quá trình sử dụng, ngoài ra trong suốt quá trình sử dụng ông P nhiều lần làm nhà, công trình phụ kiên cố trên đất, trong thời gian này ông H vẫn thường về quê nên ông H buộc phải biết xong trong suốt thời gian dài ông H cũng không có chứng cứ tài liệu thể hiện là ông đã yêu cầu ông P dừng xây dựng hoặc yêu cầu trả lại quyền sử dụng thửa đất đối với thửa đất số 180 này cho ông H. Ông H không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh có quyền sử dụng đối với thửa đất số 180, tờ bản đồ 20.

Đối với đề nghị hủy Giấy chứng quyền sử đất ở đã cấp cho ông Nguyễn Văn P của ông Nguyễn Văn H đối với thửa đất 180, tờ bản đồ 20: Theo quan điểm của UBND thị xã V, lời trình bày của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 180, tờ bản đồ 20, diện tích 410m² tại thôn T, xã V, huyện V (nay là tổ dân phố T, phường V, thị xã V) không đúng về: nguồn gốc sử dụng đất, về hạn mức đất ở và không đúng mục đích sử dụng đất (đất ao cấp thành đất ở, không nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất), không đầy đủ trình tự thủ tục nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H cũng như các đương sự khác trong vụ án thì không xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Bộ luật Dân sự do đó Toà án không xem xét trong vụ án này.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn H đề nghị HĐXX tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Vì thửa đất số 180 tuy có nguồn gốc của gia đình cụ C nhưng gia đình ông H đã đổi ruộng rau xanh của mình để có thửa đất 180 nêu trên, đồng thời UBND thị xã V cung cấp về nguồn gốc, quá trình sử dụng cũng như cấp GCNQSDĐ nêu trên thì đã xác định rõ: Trình tự, thủ tục, hồ sơ kê khai cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 180 (thửa đất đang tranh chấp) là vi phạm quy định của pháp luật. Do đó, hoàn toàn có căn cứ để xác định ông Nguyễn Văn H mới là chủ sở hữu đối với thửa đất 180. Như đã phân tích ở trên lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.

Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ.

[2.2] Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H về việc sửa bản án sơ thẩm theo chấp nhận cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 66/2024/DS- ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án nhưng ông T7 được miễn vì là người cao tuổi.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 66/2024/DSST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H được miễn án phí DSPT. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân thị xã Việt Yên;
  • - Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 33/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger