|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 10 - 12 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Minh Ngọc |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Bà Phan Thị Bích |
| 2. Bà Nông Thị Hương |
- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Huynh – Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 2 – Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Toà án nhân dân khu vực 2 – T xét xử sơ thẩm số hóa công khai theo hình thức trực tuyến kết nối điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân khu vực 2 – Tuyên Quang và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Bàn Văn T; sinh ngày 05/6/1998; nơi sinh: tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Tổ dân phố B - C, phường H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàn Văn Đ, sinh năm 1980 và bà: Bàn Thị H, sinh năm 1976; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự số 24/2016/HSST ngày 16/9/2016 của Toà án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 15/11/2016 đã nộp án phí, ngày 19/4/2017 chấp hành xong hình phạt chính. Đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T (Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T).
- Bị hại: Anh Sằm Văn T1, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 30/7/2025, Sằm Văn T1, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã B; Nguyễn Văn P, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã H; Đàm Văn C, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã H, tỉnh Tuyên Quang cùng Đặng Hoài T2, sinh năm 2003, trú tại thôn C, xã H, tỉnh Lạng Sơn; Trần Thị Ngọc D, sinh năm 2007, trú tại thôn G, xã B, tỉnh Tuyên Quang; Đặng Thị H1, sinh năm 2005, trú tại thôn C, xã P, tỉnh Tuyên Quang (T2, D, H1 là nhân viên bấm bài và hát cùng khách của Đặng Văn B, sinh năm 1996, trú tại thôn B, xã H, tỉnh Tuyên Quang) cùng đến quán K, thuộc thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang hát đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày thì đi xe taxi về. Khi đi được khoảng 200 mét P to tiếng với 03 nhân viên nữ và dùng tay tát vào mặt Đặng Hoài T2 một phát trúng vào mặt bên phải và chửi T2. Sau đó, T2, H1, D xuống xe và gọi Đặng Văn B đến đón. Ba gọi Bàn Văn S, sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố B - C, phường H, tỉnh Tuyên Quang đi cùng. Khi đi đến đỉnh dốc Cháy Cáy, thuộc thôn Đ, xã H, tỉnh Tuyên Quang, Ba đèo T2 và H1 về phòng trọ của Ba, thuộc thôn T, xã H, còn Sáng đèo D về nhà trọ của D thuộc thôn T, xã H.
Trên đường về đến cửa hàng X, thuộc thôn T, xã H, S và D gặp Bàn Văn T điều khiển xe mô tô kẹp theo 01 (một) chiếc gậy bóng chày. Khi gặp T, S hỏi “Đi đâu đấy? ” T trả lời “Tưởng nhân viên bị đánh à? ” Sáng nói “Có bị đánh nhưng mấy thằng kia nó về rồi, anh em đi về mua rượu uống”, S tiếp tục đèo D, T một mình đi xe mô tô cùng nhau đến quán ăn đêm Liễu C1 (thuộc thôn T, xã H, tỉnh Tuyên Quang) để mua rượu, đồ ăn đêm về nhà trọ. Cùng lúc đó, T1 và P cũng đến quán Liễu C1 ăn đêm. D nhìn thấy T1 và P đang xuống xe taxi tại trước cửa quán, D nói với T và Sáng “N bị mấy thằng kia đánh, mấy thằng ở chỗ xe taxi”. T nhìn ra xe taxi thấy T1 và P đang đi vào quán, T vào quán ngồi ở bàn uống nước hút thuốc lào. Sáng nhìn thấy chiếc gậy bóng chày dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 05cm để ở xe của T nên chạy đến, tay phải cầm gậy chạy về phía T1 vụt 02 (hai) phát từ trên xuống dưới, từ phải sang trái vào lưng T1, T1 bỏ chạy. Thấy vậy, T tay phải cầm điếu cày bằng cây nứa có kích thước (75,6x7)cm ở bàn uống nước chạy ra chặn hướng chạy của T1, khi cách T1 khoảng 50cm, T vụt 01 (một) phát theo hướng từ phải sang trái, từ dưới lên trên trúng vào giữa mặt của T1. Sau đó, T1 tiếp tục bỏ chạy, T cầm điếu cày đuổi theo T1, còn S cầm gậy bóng chày quay lại để tìm đánh P đang chạy trốn hướng lên Km 42 Quốc lộ B nhưng không tìm thấy, T1 bị T đuổi đánh nên chạy vào quán của anh Hoàng Đức B1, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã H, tỉnh Tuyên Quang, T nhìn thấy T1 chảy máu nhiều ở mặt nên không tiếp tục đuổi đánh nữa và vứt điếu cày ở đường (lúc này khoảng 00 giờ 05 phút). Sau đó T và Sáng đi về nhà trọ, trên đường về Sáng vứt gậy bóng chày xuống dòng Sông Lô ở cầu T, thuộc thôn B, xã H, tỉnh Tuyên Quang. Hậu quả: Sằm Văn T1 bị chảy máu ở vùng mặt, vỡ xương ổ mắt, gãy xương chính mũi và phải đến Trung tâm y tế khu vực H khám, điều trị.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 108/2025/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 21/8/2025 của Trung tâm Giám định Y khoa và Pháp Y tỉnh T, kết luận đối với thương tích của Sằm Văn T1 là: 13% (mười ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư; Cơ chế, vật gây thương tích: Do vật tầy tác động trực tiếp gây nên.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSKV2, ngày 06/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang đã truy tố Bàn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bàn Văn T theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Bàn Văn T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Văn T từ 02 (hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (28/8/2025).
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Do trong quá trình điều tra, bị cáo Bàn Văn T đã tác động và đồng ý để bố mẹ tự nguyện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Sằm Văn T1 tổng số tiền là 75.000.000 đồng (Bẩy mươi lăm triệu đồng) và không có ý kiến hay đề nghị gì thêm nên không đề nghị HĐXX giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Ống điếu bằng cây nứa, đã bị nứt, vỡ thành nhiều mảnh, kích thước (75,6 x 7)cm, màu vàng - nâu - đen trên thân vỏ điếu có 03 (ba) mảnh kim loại, bản rộng 1,6cm, bị bẹp theo thân điếu.
Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị hại anh Sằm Văn T1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình điều tra, bị hại đã có ý kiến với nội dung: Về trách nhiệm dân sự anh T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho anh bất cứ khoản tiền nào khác; Về trách nhiệm hình sự, anh T1 đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Tuyên Quang đã truy tố đối với bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi mình đã gây ra đối với bị hại; bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bàn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Tuyên Quang đã truy tố đối với bị cáo. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định thương tích; Vật chứng thu giữ; Lời khai của bị hại, người làm chứng cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 31/7/2025, tại thôn T, xã H, tỉnh Tuyên Quang, Bàn Văn T đã có hành vi dùng 01 ống điếu bằng nứa, kích thước (75,6 x 7)cm vụt 01 phát trúng vùng mặt của Sằm Văn T1 gây thương tích, tổn hại 13% (Mười ba phần trăm) sức khỏe.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Tuyên Quang truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi dùng 01 ống điếu bằng nứa kích thước (75,6 x 7)cm vụt trúng vào vùng mặt của bị hại T1 gây thương tích, tổn hại 13% sức khoẻ là hành vi nguy hiểm, đã xâm phạm đến sức khoẻ của anh T1. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, biết việc dùng chiếc ống điếu bằng nứa là hung khí nguy hiểm vụt vào mặt bị hại làm tổn hại đến sức khỏe của anh T1 là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 4 – Tuyên Quang) xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, thể hiện sự hung hãn, mang tính chất côn đồ, coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy cần xử phạt bị cáo thật nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tác động và đồng ý đế bố mẹ bồi thường thiệt hại cho bị hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xét thấy, cần xử phạt bị cáo với mức án trong khung như đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ pháp luật.
[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại của Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động và đồng ý để bố mẹ tự nguyện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại T1 tổng số tiền là 75.000.000đồng (Bẩy mươi lăm triệu đồng), anh T1 xác nhận đã nhận đủ số tiền trên. Anh T3 không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã thu giữ: 01 (một) Ống điếu bằng cây nứa, đã bị nứt, vỡ thành nhiều mảnh, kích thước (75,6 x 7)cm, màu vàng - nâu - đen trên thân vỏ điếu có 03 (ba) mảnh kim loại, bản rộng 1,6cm, bị bẹp theo thân điếu. Hội đồng xét xử xét thấy: Vật chứng này không còn giá trị sử dụng, anh Bùi Duy T4 là chủ sở hữu hợp pháp không có nhu cầu xin lại nên cần tiêu hủy theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm . Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với Bàn Văn S dùng gậy bóng chày vụt 02 phát vào lưng Săm Văn T5 nhưng không gây thương tích, quá trình điều tra xác định không bàn bạc, thống nhất với bị cáo gây thương tích cho T5 nên hành vi không cấu thành tội phạm; Đối với Nguyễn Văn P có hành vi dùng tay tát vào mặt Đặng Hoài T2. Hành vi của S và P là hành vi vi phạm hành chính, ngày 20/10/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển hồ sơ đến Trưởng Công an xã H để xử phạt hành chính theo quy định.
Đối với Trần Thị Ngọc D không có hành vi bàn bạc, thống nhất, kích động, xúi giục T và S gây thương tích cho T5 nên không đề cập xử lý.
Bị cáo T và S đuổi đánh T5 xảy ra vào ban đêm, lưu lượng tham gia giao thông ít, các hộ dân đã đi ngủ, thời gian diễn ra nhanh nên không gây mất trật tự công cộng, ùn tắc giao thông, không làm ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của mọi người. Do đó hành vi không cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
-
Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Văn T 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (28/8/2025).
-
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) Ống điếu bằng cây nứa, đã bị nứt, vỡ thành nhiều mảnh, kích thước (75,6 x 7)cm, màu vàng - nâu - đen trên thân vỏ điếu có 03 (ba) mảnh kim loại, bản rộng 1,6cm, bị bẹp theo thân điếu (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Tuyên Quang).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Ngọc |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nông Thị Hương - Phan Thị Bích |
Hoàng Thị Minh Ngọc |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bàn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích
