TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v: "Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Bạt Hào
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng
- Ông Lê Văn Bút
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên Tòa: bà Phan Thị Thúy Hậu – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QÐST- HNGĐ ngày 30/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16/6/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: tổ A, thôn D, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, có mặt.
- - Bị đơn: ông Trần Viết V, sinh năm 1993; Nơi cư trú: số A, dường Bầu C, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Viết V đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, TP. vào năm 2015. Sau kết hôn hai vợ chồng chung sống tại số A B, thôn B, xã H, huyện H, TP .. Trong quá trình chung sống đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, dẫn đến đời sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc. Hiện tại bà H đang ở nhà mẹ ruột tại địa chỉ tổ A, thôn D, xã H, huyện H, TP .. Gia đình hai bên đã cố gằng hòa giải nhưng tình trạng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không cải thiện. Hiện nay hai vợ chồng sống ly thân, không có trách nhiệm gì với nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay vợ chồng sống ly thân nên bà xin được ly hôn ông V.
- Về con chung: bà và ông V có 01 con chung là cháu Trần Viết Minh K, sinh ngày 30/10/2015. Ly hôn, bà H có nguyện vọng nuôi con chung, yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng, tại phiên tòa bà chỉ yêu cầu ông V cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000₫.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Sau khi thụ lý vụ án với nội dung như trên, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải để hàn gắn vợ chồng giữa bà H và ông V. Tuy nhiên ông V vắng mặt nên Tòa án không lấy lời khai được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
- - Chấp nhận đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Viết V;
- - Về hôn nhân: Bà Nguyên Thị H1 được ly hôn ông Trần Viết V.
- - Về con chung: Giao con chung Trần Viết Minh K, sinh ngày 30/10/2015 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Viết V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến.
- - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000₫ bà Nguyễn Thị H phải chịu.
- - Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Trần Viết V phải chịu là 300.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ chuyển thẩm quyền cho Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang giải quyết theo lãnh thổ và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, ông Trần Viết V được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên ông V vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Viết V theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Viết V kết hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, TP Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H cho rằng, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm sống khác nhau, do đó hai vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Viết V.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã động viên bà Nguyễn Thị H về tiếp tục sống chung với ông Trần Viết V để cùng nhau nuôi dạy con chung và xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu kiên quyết xin được ly hôn đối với ông V.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã đến mức không thể hàn gắn được. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo về phiên hòa giải nhưng ông V không hợp tác, né tránh hai vợ chồng vẫn sống ly thân, không có trách nhiệm gì với nhau. Mặt khác ông V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện ông V không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy mâu thuẩn giữa bà H và ông V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Viết V là thỏa đáng.
- Về nuôi con chung: Bà H và ông V có 01 con chung, Trần Viết Minh K, sinh ngày 30/10/2015. Ly hôn, bà H có nguyện vọng nuôi con chung và yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồn. Xét thấy hiện nay con chung đang sinh sống với bà H, cháu K có bản khai và có nguyện vọng ở với bà H, ông V cố tình vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến của ông về nguyện vọng đối với con chung điều đó cho thấy ông V không có nguyện vọng nuôi con chung. Để không làm xáo trộn cuộc sống, học hành của con chung nên giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy việc bà H yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000đ, tại phiên tòa bà thay đổi mức cấp dưỡng còn 3.000.000đ. HĐXX mức yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp nên chấp nhận.
- Về tài sản chung: Không đề cấp đến.
- Về nợ chung: Không có
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Trần Viết V phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Viết V;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Nguyên Thị H1 được ly hôn ông Trần Viết V.
- Về con chung: Giao con chung Trần Viết Minh K, sinh ngày 30/10/2015 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Viết V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau ly hôn, các bên có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000₫ bà Nguyễn Thị H phải chịu. Nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009401 ngày 18/12/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng. Bà H đã nộp đủ án phí.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Trần Viết V phải chịu là 300.000đ.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Bạt Hào |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
