Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH THUỶ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Tấn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Hồng Canh

Ông Nguyễn Bá Hùng

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Hồng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Tiến H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 24/4/1992; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Bố đẻ: Phạm Văn K, sinh năm 1966; Mẹ đẻ: Phạm Thị T, sinh năm 1968; Vợ: Nguyễn Thị H1; Có 3 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022; Có 4 anh em, bị cáo là thứ nhất;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Lịch sử bản thân: Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKSTT ngày 17/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, Phạm Tiến H bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa, bị hại đã có đơn “Rút yêu cầu khởi tố”, do vậy, ngày 23/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy đã ra quyết định đình chỉ vụ án, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với Phạm Tiến H.

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025 đến 15 giờ ngày 26/4/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 18/10/1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Bố đẻ: Nguyễn Tiến L; Mẹ đẻ: Phạm Thị L1; Chồng: Hà Huy T1; Có 2 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016; Có 4 anh em, bị cáo là thứ ba;

1

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025 đến 15 giờ 05 phút ngày 26/4/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3. Họ và tên: Hà Thị T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 14/5/1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Bố đẻ: Hà Văn T3 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị M; Chồng: Chu Huy P; Có 2 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Có 4 anh em, bị cáo là thứ tư; Tiền án, tiền sự: Không;

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025 đến 15 giờ 10 phút ngày 26/4/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

4. Họ và tên: Trần Thị S1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 10/9/1971; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Bố đẻ: Trần Văn L2 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị É; Chồng: Lê Văn M1; Có 2 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994; Có 8 anh em, bị cáo là thứ sáu;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025 đến 15 giờ 15 phút ngày 26/4/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

5. Họ và tên: Nguyễn Xuân Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 22/7/1997; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Trọng N; Mẹ đẻ: Phùng Thị K1; Vợ, con: Chưa có; Có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025 đến 15 giờ 20 phút ngày 26/4/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

6. Họ và tên: Nguyễn Văn L3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/01/1993; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu B, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Đức K2; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B; Vợ: Đặng Thị V (Đã ly hôn); Con: Có 1 con, sinh năm 2014; Có 3 anh em, bị cáo là thứ nhất;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

7. Họ và tên: Quách Thị T4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 22/8/1997; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Quách Sỹ D; Mẹ đẻ: Trần Thị T5; Chồng: Đặng Văn C; Có 1 con, sinh năm 2023; Có 4 anh em, bị cáo là thứ ba;

2

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

8. Họ và tên: Lê Thị L4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 05/10/1998; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Lê Tiến N1; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L5; Chồng: Lê Văn L6; Có 1 con, sinh năm 2019; Có 3 anh em, bị cáo là thứ nhất;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 23/4/2025, Phạm Tiến H đang ở nhà tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì có Nguyễn Văn L3, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2 và Trần Thị S1 đến nhà H chơi. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, thì tất cả cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “ba cây” cá cược được thua bằng tiền. Học đưa mọi người đi vào gian phòng ngủ tiếp giáp với gian phòng khách, rồi lấy tại bờ tường cửa sổ 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài (từ quân A đến 9) để xuống nền phòng để cùng nhau đánh bạc.

Về cách thức chơi và tỷ lệ cá cược như sau: Những người tham gia đánh bạc sử dụng bộ bài Tú lơ khơ gồm 36 quân bài (từ A đến 9) để đánh bạc. Trước khi chơi, H chia ngẫu nhiên cho mỗi người 03 quân bài theo chiều ngược chiều quay kim đồng hồ, sau đó sẽ cộng tổng điểm, điểm của người chơi là tổng điểm của 03 quân bài, nếu tổng điểm của 03 quân bài cao hơn 10 thì sẽ lấy số hàng đơn vị làm điểm, nếu điểm số bằng nhau thì so sánh đến chất theo thứ tự từ cao xuống thấp là Rô-Cơ-Tép-B1, ai cao điểm nhất sẽ được là người chia bài - người cầm trương. Trước mỗi ván, người chơi sẽ đặt cược với số tiền từ 200.000đ đến 500.000đ. Sau khi tất cả người chơi đã đặt cược, người cầm chương sẽ chia cho mỗi người chơi 03 quân bài. Sau khi người cầm chương chia bài xong, người chơi sẽ lên bài và so sánh điểm với người cầm chương. Nếu điểm người chơi cao hơn điểm của người cầm chương thì sẽ được người cầm chương trả tiền đúng bằng số tiền đã đặt cược, nếu điểm nhỏ hơn điểm của người cầm chương thì sẽ mất toàn bộ số tiền đã đặt cược ván đó. Nếu trong ván bài, có người chơi được 10 điểm thì sẽ được cầm chương ván tiếp theo. Phạm Tiến H, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2 và Trần Thị S1 đánh bạc đến khoảng 15 giờ 50 phút thì lần lượt có Quách Thị T4 và Lê Thị L4 đến tham gia đánh bạc cùng. Đến khoảng 16 giờ 10 phút, do có việc bận nên lần lượt Quách Thị T4 và Lê Thị L4 đứng dậy đi về trước còn Phạm Tiến H, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2 và Trần Thị S1 tiếp tục ngồi đánh bạc đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang, Nguyễn Văn L3 bỏ chạy, đến ngày 30/4/2025, L3 đến trình diện theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra.

Về số tiền đánh bạc: Khi tham gia đánh bạc Phạm Tiến H có 5.200.000đ, Nguyễn Thị S có 4.800.000đ, Hà Thị T2 có 3.600.000đ, Trần Thị S1 có 5.000.000đ,

3

Nguyễn Xuân Q có 3.180.000đ, Nguyễn Văn L3 có 1.300.000đ, Quách Thị T4 có 800.000đ và Lê Thị L4 có 600.000đ. Quá trình đánh bạc các bị can sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Khi về trước, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 đang hòa; khi bỏ chạy, Nguyễn Văn L3 để lại toàn bộ số tiền tại chiếu bạc. Do vậy, các bị can phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 24.480.000đ.

*Về vật chứng của vụ án gồm:

Thu giữ tại chiếu bạc: 13.300.000đ; 36 quân bài tú lơ khơ; 06 điện thoại di động các loại (gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Promax, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0969.651.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, màu vàng, lắp sim số điện thoại 0984.752.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 13 Promax, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0972.978.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0398.262.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Promax, màu titan tự nhiên, lắp sim số điện thoại 0989.944.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro, màu titan tự nhiên, lắp sim số điện thoại 0972.679.xxx)

Thu giữ của: Phạm Tiến H 3.200.000đ; Nguyễn Thị S 2.800.000đ; Hà Thị T2 1.600.000đ; Trần Thị S1 2.000.000đ; Nguyễn Xuân Q 180.000đ; Quách Thị T4 800.000đ; Lê Thị L4 600.000đ.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã trả lại 06 chiếc điện thoại di động (tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội) cho chủ sở hữu là Phạm Tiến H, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Trần Thị S1, Nguyễn Xuân Q và Nguyễn Văn L3.

Các vật chứng còn lại gồm: 36 quân bài tú lơ khơ và 24.480.000đ hiện được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản Cáo trạng số: 30/CT-VKSTT ngày 13/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Trần Thị S1, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên – Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

*Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Phạm Tiến H, Trần Thị S1 và Nguyễn Thị S.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Tiến H, Trần Thị S1, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 phạm tội "Đánh bạc".

2. Xử phạt:

- Xử phạt bị cáo Phạm Tiến H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4

- Xử phạt bị cáo Trần Thị S1 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Tiến H, Trần Thị S1, Nguyễn Thị S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

- Xử phạt bị cáo Hà Thị T2 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 ngày quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 21 ngày đến 17 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 ngày quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 21 ngày đến 17 tháng 21 ngàycải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Liên T6 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ

- Xử phạt bị cáo Quách Thị T4 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ

- Xử phạt bị cáo Lê Thị L4 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao các bị cáo Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 cho UBND xã (nơi bị cáo cư trú) giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị Lương

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

*Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Phạm Tiến H, Trần Thị S1, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4

*Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số đối với các bị cáo: Phạm Tiến H, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Trần Thị S1, Nguyễn Xuân Q, Quách Thị T4, Lê Thị L4 và Nguyễn Văn L3.

3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 24.480.000đ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.

5

- Tịch thu, tiêu hủy 36 quân bài tú lơ khơ là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc.

*Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội là hợp pháp, gồm:

4. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu và chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

2. Về nội dung vụ án:

[1] Tại phiên toà, các bị cáo đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai nhận tại phiên tòa đều thống nhất với nhau, phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp với vật chứng thu giữ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025, tại nhà của Phạm Tiến H ở khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Phạm Tiến H (chủ nhà), Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Trần Thị S1, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi “ba cây”, được thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 24.480.000đ.

Số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc đã đến mức xử lý về hình sự, hành vi đó đủ căn cứ cấu thành tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[2] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, nếp sống văn minh của cộng đồng dân cư, gây mất trật tự, trị an xã hội. Các bị cáo đều là những người có đầy đủ

6

năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì muốn kiếm tiền nhanh chóng các bị cáo đã thực hiện hành vi sát phạt nhau trên chiếu bạc. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật với mục đích là thu lời bất chính. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, vai trò các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Trần Thị S1, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 không có tiền án, tiền sự là những người có nhân thân tốt.

Riêng bị cáo Phạm Tiến H từng bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự (Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSTT ngày 17/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy). Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa, bị hại đã có đơn “Rút yêu cầu khởi tố”, do vậy, ngày 23/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy đã ra quyết định đình chỉ vụ án, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với Phạm Tiến H. Hiện bị cáo H cũng không có tiền án, tiền sự.

Về vai trò: Các bị cáo đều là đồng phạm của nhau với vai trò cùng là người thực hiện. Trong đó, Phạm Tiến H là người tích cực nhất khi cung cấp công cụ, địa điểm và cùng tham gia đánh bạc.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại: Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Từ sự phân tích trên, xét thấy, các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Trần Thị S1, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo ít nghiêm trọng nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Tuy nhiên cũng cần xét đến vai trò, nhân thân, số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc để đưa ra mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo. Do vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo: Học, S1, Sao và áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo: T2, Q, L3, T4, L4; Đồng thời có sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện để cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập:

Qua xác minh của cơ quan Điều tra: Các bị cáo H, S1, Sao, T2, Q, L3, T4, L4 đang sinh sống cùng gia đình, đều là lao động tự do thu nhập không ổn định; ngoài những tài sản chung phục vụ sinh hoạt hàng ngày, các bị cáo đều không có tài sản riêng gì có giá trị. Vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo: T2, Q, L3, T4 và L4

[7]Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

7

- Đối với số tiền 24.480.000đ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Trong đó của bị cáo Phạm Tiến H có 5.200.000đ, Nguyễn Thị S có 4.800.000đ, Hà Thị T2 có 3.600.000đ, Trần Thị S1 có 5.000.000đ, Nguyễn Xuân Q có 3.180.000đ, Nguyễn Văn L3 có 1.300.000đ, Quách Thị T4 có 800.000đ và Lê Thị L4 có 600.000đ. Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 36 quân bài tú lơ khơ là công cụ dùng để đánh bạc, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Promax, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0969.651.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, màu vàng, lắp sim số điện thoại 0984.752.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 13 Promax, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0972.978.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0398.262.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Promax, màu titan tự nhiên, lắp sim số điện thoại 0989.944.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro, màu titan tự nhiên, lắp sim số điện thoại 0972.679.xxx.

[8]Về án phí, Quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

*Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Phạm Tiến H, Trần Thị S1 và Nguyễn Thị S.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Tiến H, Trần Thị S1, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4 phạm tội "Đánh bạc".

2. Xử phạt:

- Xử phạt bị cáo Phạm Tiến H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Tiến H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

8

- Xử phạt bị cáo Trần Thị S1 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thị S1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Hà Thị T2 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 (Ba) ngày (từ 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025 đến 15 giờ 10 phút ngày 26/4/2025) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Hà Thị T2 cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hà Thị T2.

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 (Ba) ngày (từ 16 giờ 30 phút ngày 23/4/2025 đến 15 giờ 10 phút ngày 26/4/2025) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Xuân Q cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong

9

thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Xuân Q.

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L3 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn L3 cho UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn L3.

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

- Xử phạt bị cáo Quách Thị T4 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Quách Thị T4 cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Quách Thị T4.

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

- Xử phạt bị cáo Lê Thị L4 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Lê Thị L4 cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Thị Lương

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

10

*Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Phạm Tiến H, Trần Thị S1, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4.

*Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47 /2025/ HSST-LCCT ngày 13/6/2025 lần lượt đối với các bị cáo: Phạm Tiến H, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Trần Thị S1, Nguyễn Xuân Q, Quách Thị T4, Lê Thị L4 và Nguyễn Văn L3.

3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a, b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, Khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 24.480.000đ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.

Tịch thu, tiêu hủy 36 (Ba mươi sáu) quân bài tú lơ khơ, có mặt sau là các họa tiết màu xanh, vàng, tình trạng đã qua sử dụng là công cụ dùng để đánh bạc.

(Vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/6/2025)

*Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội là hợp pháp, gồm:

- Trả lại cho bị cáo Phạm Tiến H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Promax, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0969.651.xxx;

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị S1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, màu vàng, lắp sim số điện thoại 0984.752.xxx;

- Trả lại cho bị cáo Hà Thị T2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 13 Promax, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0972.978.xxx;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị S: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0398.262.xxx;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân Q: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Promax, màu titan tự nhiên, lắp sim số điện thoại 0989.944.xxx;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L3: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro, màu titan tự nhiên, lắp sim số điện thoại 0972.679.xxx.

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo: Phạm Tiến H, Trần Thị S1, Nguyễn Thị S, Hà Thị T2, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Văn L3, Quách Thị T4 và Lê Thị L4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

11

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Thanh Thuỷ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Văn phòng CQ CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Thuỷ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Tấn

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Tiến H và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger