Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/6/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Diên Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thỏa và bà Lê Thị Thanh Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST-DS ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị T, sinh năm 1980. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

- Bị đơn: Anh Đậu Văn T1, sinh năm 1978. Vắng mặt

Cùng nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2025, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đậu Văn T1 đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 19/11/1999. Kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được khoảng ba tháng, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T1 suốt ngày rượu chè và thường xuyên đánh đập chị, anh T1 không tu chí làm ăn xây dựng gia đình. Năm 2014 chị bỏ về xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An xây nhà cho chị và các con ở, sau đó anh T1 cũng theo về ở tại xã Q, nhưng anh T1 vẫn rượu chè bê tha, không thay đổi được. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh T1, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đậu Văn T1.

Về con chung : Vợ chồng có 03 con chung Đậu Văn T2, sinh ngày 02/11/2001; Đậu Thị T3, sinh ngày 15/7/2004 và Đậu Thị D, sinh ngày 06/5/2009. Hai con là T2 và T3 đã đủ 18 tuổi trưởng thành, ở với ai do các con lựa chọn quyết định, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu D, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Đậu Văn T1 hợp lệ nhưng anh T1 vắng mặt không có ý kiến gửi Tòa án.

* Cháu Đậu Thị D trình bày: Bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Kết quả xác minh tại UBND xã Q: Anh Đậu Văn T1 và chị Hồ Thị T đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 19/11/1999. Kết hôn tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống anh T1 và chị T có xảy ra mâu thuẫn, qua tìm hiểu tại cơ sở nguyên nhân do anh T1 thường xuyên rượu chè, say xỉn. Anh T1 và chị T có 03 con chung là Đậu Văn T2, sinh ngày 02/11/2001; Đậu Thị T3, sinh ngày 15/7/2004 và Đậu Thị D, sinh ngày 06/5/2009. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh T1 thì địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.

Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Về tình cảm: Cho chị Hồ Thị T được ly hôn anh Đậu Văn T1.

Về con chung: Giao con chung là Đậu Thị D, sinh ngày 06/5/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Các con là Đậu Văn T2, sinh ngày 02/11/2001 và Đậu Thị T3, sinh ngày 15/7/2004 đã đủ 18 tuổi trưởng thành, ở với ai do con lựa chọn.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T1 vì chị T không yêu cầu.

Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

[1.1] Chị Hồ Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Đậu Văn T1, có nguyện vọng nuôi con chung đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Đậu Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh T1 và chị T là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống anh T1 và chị T có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T1 thường xuyên rượu chè, say xỉn, không làm chủ được bản thân và hành vi của mình. Chị T đã chịu đựng và cho anh T1 nhiều cơ hội thay đổi nhưng anh T1 không thay đổi để xây dựng gia đình hạnh phúc. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh T1 và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T nhất quyết yêu cầu ly hôn. Do đó, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị T ly hôn anh Đậu Văn T1.

[2.2] Về con chung: Xét thấy, nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của chị T là chính đáng, thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ và tình thương yêu đối với con. Đồng thời cháu D cũng có nguyện vọng ở với chị T. Kết quả xác minh tại Công an xã Q cho biết anh T1 làm nghề thợ xây thường đi làm theo công trình ngoài huyện, ngoài tỉnh vì vậy không có đủ điểu kiện đảm bảo chỗ ở ổn định cho con. Để bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt và học tập cho cháu D, nên giao cháu D cho chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An là phù hợp.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T1 vì chị T không yêu cầu.

3

[2.3] Về tài sản và nợ chung: Không ai yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Đậu Văn T1.

2. Về con chung: Giao con chung Đậu Thị D, sinh ngày 06/5/2009 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành hoặc đến khi có quyết định khác thay thế.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T1 vì chị T chưa yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị Hồ Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng mà chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 56 ngày 06/3/2025.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

4

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;
  • - UBND xã Quỳnh Văn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Diên Tuấn

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hồ Thị T yêu câu ly hôn anh Đậu Văn Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger